Contact

Contact Us: chu.duong@gmail.com

7/05/2011

SỰ KHÁC BIỆT QUÁ LƠN GIỮA NGƯỜI VIỆT VÀ NGƯỜI NHẬT.

Tại sao có sự khác biệt quá lớn
giữa người Việt Nam và người Nhật Bản?http://www.vietlyhuong.net/2011/05/tai-sao-co-su-khac-biet-qua-lon-giua.html
                       Trước đây do công việc tôi có dịp đi Nhật nhiều lần cũng như đi nhiều nước khác trên thế giới. Nước Nhật không phải là nước mà tôi thích đến nhất (có thể vì đắt đỏ quá), nhưng đó là đất nước mà tôi nể phục nhất—không chỉ phục ở những thành tựu của sự văn minh, những công trình kiến trúc tuyệt mỹ mà còn ở yếu tố con người.
                        Kể từ đó tôi luôn tò mò tìm hiểu thêm về lịch sử và văn hóa của các con cháu Thái Dương Thần Nữ.
                        Càng biết thêm về họ tôi càng phục họ hơn. Đó là một dân tộc có nhiều điểm rất đặc biệt. Một dân tộc luôn tự hào về những giá trị truyền thống nhưng khi cần cũng sẵn sàng dứt bỏ những gì đã lỗi thời. Một dân tộc mang niềm kiêu hãnh lớn lao nhưng đồng thời cũng luôn biết học hỏi cái hay của người khác. Một dân tộc đã từng đánh bại các đế quốc Mông Cổ, Trung Hoa và Nga Sô nhưng cũng biết nuốt cái nhục bại trận để vươn lên thành một cường quốc kinh tế. Một dân tộc ít khi ồn ào lớn tiếng, và luôn xem trọng sự ngăn nắp sạch sẽ. Nhưng đặc biệt hơn cả, đó là một dân tộc chưa bao giờ biết đầu hàng trước nghịch cảnh.
                        Tôi nhớ trước đây có đọc một bài viết của một người Việt sống lâu năm tại Nhật, quên mất tên tác giả, trong đó ông có nêu ra một chi tiết để phân biệt giữa người Nhật bản địa và người ngoại quốc sống ở Nhật—đó là nhìn qua cách phơi quần áo. Người ngoại quốc phơi lung tung, còn người Nhật phơi theo thứ tự, quần theo quần, áo theo áo…
                        Đúng như nhà văn Haruki Murakami đã nhận định: “Người Nhật là kho tàng của nước Nhật.” Tôi rất cám ơn đất nước này vì chính người Nhật đã cho tôi một niềm tin rằng bất cứ một đất nước nào, dù nhỏ, dù bị bất lợi về địa lý, tài nguyên… nhưng nếu dân tộc đó có một nhân sinh quan đúng đắn thì vẫn có thể trở thành một dân tộc giàu mạnh.
                        – — –
                        Thiên tai động đất và sóng thần xảy ra ở Nhật cách đây 2 tháng, mặc dầu những tin tức liên quan đến biến cố này không còn được nhắc đến nữa, nhưng đối với những người Việt Nam còn quan tâm đến đất nước thì những dư âm của nó vẫn còn để lại nhiều vương vấn suy tư. Cùng là hai nước nhỏ ở Á Châu nhưng định mệnh nào đã đưa đẩy hai dân tộc khác biệt nhau quá xa. Một dân tộc mà mỗi khi nhắc tới, từ Đông sang Tây, đều phải ngã mũ bái phục, còn dân tộc kia thì ít khi được nhắc đến, hay nếu có thì thường là những điều không lấy gì làm vinh dự cho lắm.
                        Sau biến cố này đã có hàng ngàn ý kiến xuất hiện trên các diễn đàn Internet đặt câu hỏi: “Tại sao lại có sự khác biệt quá lớn giữa người Việt và người Nhật,” phần lớn những ý kiến này xuất phát từ những người trẻ đang sống ở Việt Nam. Đó là một tín hiệu đáng mừng cho thấy có nhiều người Việt Nam đang thao thức muốn thay đổi số phận của đất nước mình.
                        Đây là một đề tài rất lớn và đòi hỏi sự suy nghĩ, nghiên cứu nghiêm túc của nhiều người nhất là những nhà trí thức. Bài viết này để chia sẻ câu hỏi đó và chỉ nên xem như những lời góp ý rất khiêm tốn.
                        Sự chênh lệch giữa Việt Nam và Nhật Bản không phải chỉ xảy ra bây giờ, từ đầu thế kỷ 20 Nhật đã vượt ta rất xa. Trong cuốn Niên Biểu cụ Phan bội Châu đã kể lại kinh nghiệm của mình sau hai lần đến nước Nhật để tìm đường cứu nước (lần đầu tiên vào năm 1905). Những điều tai nghe mắt thấy tại đây khiến cụ rất phục tinh thần của dân tộc Nhật Bản. Người phu xe, thuộc giai cấp lao động bình dân, chở cụ đi tìm một sinh viên người Trung Hoa, mất nhiều thời gian công sức mà cuối cùng vẫn nhận đúng 52 xu. “Than ôi! trình độ trí thức dân nước ta xem với tên phu xe Nhật Bản chẳng dám chết thẹn lắm sao!”
                        Nước Nhật nằm ở vị trí đầu sóng ngọn gió, chịu liên tục những thiên tai trong suốt chiều dài lịch sử và họ chấp nhận định mệnh đó với lòng can đảm. Thiên tai vừa rồi rất nhỏ so với trận động đất tại Tokyo vào năm 1923 và hai quả bom nguyên tử vào cuối Đệ Nhị Thế Chiến. Nhờ phương tiện truyền thông quá văn minh cho nên cả thế giới vừa rồi có cơ hội nhìn thấy rõ hơn “tinh thần Nhật Bản” trong cơn nguy biến.
                        Trận động đất xảy ra tại Tokyo ngày 1/9/1923 đã làm cho 130,000 người thiệt mạng, Yokohama bị tàn phá hoàn toàn, phân nửa của Tokyo bị tiêu hủy. Trong quyển Thảm nạn Nhật Bản (Le désastre Japonais) của đại sứ Pháp tại Nhật thời đó thuật lại: “Từng cá nhân kẻ góp chút gạo, kẻ đem chiếc xuồng để giúp đỡ nhau như một đại gia đình,” chứng tỏ là họ có một truyền thống tương thân tương ái lâu đời.
                        Vào cuối Đệ Nhị Thế Chiến hai quả bom nguyên tử bỏ xuống HiroshimaNagasaki, ngay lập tức làm thiệt mạng khoảng 150,000 người. Những thành phố kỹ nghệ của Nhật cũng bị tàn phá nặng nề vì những trận mưa bom của phi cơ Đồng Minh. Lần đầu tiên trong lịch sử người Nhật phải chấp nhận đầu hàng và là nỗi nhục quá lớn đối với họ như lời của Nhật Hoàng Hirorito: “Chúng ta phải chịu đựng những điều không thể chịu đựng nỗi.”
                        Không có hình ảnh nào thê thảm như nước Nhật lúc đó, kinh tế gần như bị kiệt quệ hoàn toàn. Tuy nhiên Đồng Minh có thể tiêu diệt nước Nhật nhưng không thể tiêu diệt được tinh thần của người Nhật, họ đã biến cái nhục thua trận thành sức mạnh để vươn lên từ đống tro tàn.
                        Đến năm 1970, chỉ có 25 năm, một nước bại trận hoang tàn đổ nát trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ nhì trên thế giới, chỉ thua có Hoa Kỳ. Danh từ “Phép lạ kinh tế” phát xuất từ hiện tượng này.
                        Trong 7 năm từ 1945 cho đến 1952, tướng MacArthur, thay mặt Hoa Kỳ quản trị nước Nhật với tư cách là Chỉ Huy Tối Cao của Lực Lượng Đồng Minh (Supreme Commander of the Allied Powers)—vì nể phục và quý mến người Nhật cho nên vị tướng này muốn biến nước Nhật trở thành một “Nước Mỹ lý tưởng” hay nước Thụy Sĩ ở Á Châu. Tuy cuối cùng kết quả không được trọn vẹn như ý muốn của ông vì người Nhật không thể để mất hồn tính dân tộc. Nhưng nước Nhật được như ngày nay có công đóng góp rất lớn của tướng MacArthur.
                        Trở lại chuyện thiên tai vừa rồi, ngay sau đó có cả ngàn bài viết ca ngợi tinh thần của người Nhật. Nhiều tờ báo lớn của Tây Phương đi tít trang mặt: Người Nhật: Một Dân Tộc Vĩ Đại. Nhật báo lớn nhất của Mỹ, New York Times, số ra ngày 20 tháng 3 đăng bài Những điều người Nhật có thể dạy chúng ta của ký giả Nicholas Kriftoff.
                        Đúng như lời của nhà báo Ngô Nhân Dụng đã viết: “Một dân tộc, và mỗi con người, khi bị thử thách trong cơn hoạn nạn, là lúc chứng tỏ mình lớn hay nhỏ, có đáng kính trọng hay không.”
                        Dùng từ vĩ đại đối với nước Nhật không cường điệu chút nào, họ vĩ đại thật. Giữa cảnh chết chóc, nhà cửa tan nát, đói lạnh, tuyệt vọng… vậy mà họ vẫn không để mất nhân cách, mọi người nối đuôi nhau chờ đợi hàng giờ để lãnh thức ăn, tuyệt đối không oán trách trời, không trách chính quyền, không lớn tiếng, không ồn ào, kiên nhẫn chờ đợi đến phiên mình.
                        Một đất nước mà trong cơn khốn khó, không đổ lỗi cho nhau, từ quan đến dân, trăm người như một, trên dưới một lòng lo tìm cách đối phó, thì đất nước đó xứng đáng là một đất nước vĩ đại.
                        Toàn bộ nội các Nhật làm việc gần như 24/24. Các hiệu trưởng ngủ lại trường cho đến khi học sinh cuối cùng được di chuyển đi. Các siêu thị hoàn toàn không lợi dụng tình cảnh này để tăng giá. Tiền rơi ngoài đường từ những căn nhà đổ nát không ai màn tới thì đừng nói chi đến chuyện hôi của. Ông Gregory Pflugfelder, giáo sư chuyên nghiên cứu văn hóa Nhật Bản tại Đại Học Columbia (Mỹ) đã nhận xét về người Nhật sau thiên tai này như sau: “Hôi của đơn giản là không xảy ra ở Nhật Bản. Tôi thậm chí còn không chắn rằng trong ngôn ngữ Nhật Bản có từ ngữ này.”
                        Người Nhật là một dân tộc có tinh thần độc lập, tự trọng và lòng yêu nước rất cao, không chờ đợi ai mở lòng thương hại, sau những hoang tàn đổ nát, mọi người cùng nhau bắt tay xây dựng lại.
                        Mặc dầu chính phủ Hoa Kỳ đề nghị đến giúp dập tắt lò nguyên tử Fukushima nhưng họ từ chối.
                        Xa lộ tại thành phố Naka, thuộc tỉnh Ibaraki bị hư hại nặng do động đất. Chỉ một tuần sau, ngày 17/3 các công nhân cầu đường Nhật bắt đầu sửa chữa, chỉ 6 ngày sau xa lộ này đã hoàn tất, ngay cả Hoa Kỳ có lẽ cũng không thể đạt được kỷ lục này.
                        Từ Nhật Hoàng Akihito, Thủ Tướng Naoto, cho đến các thường dân đều tự tin rằng: “Chúng tôi sẽ phục hồi” như họ đã từng làm trong quá khứ. Cho đến hôm nay (18/5) theo những tin mà chúng ta đọc được trên Internet thì những nơi bị tàn phá đang được phục hồi nhanh chóng. Có thể chỉ 2, 3 năm sau nếu có dịp đến đây chúng ta sẽ thấy cảnh vật hoàn toàn thay đổi.
                        Điều đáng chú ý nhất trong thiên tai này đối với người viết—chính là thái độ của trẻ em. Đến xứ nào, chỉ cần nhìn qua tuổi trẻ là có thể đoán được tương lai của xứ đó, bởi vì tuổi trẻ là hy vọng, là tương lai của đất nước. Không phải chỉ có em học sinh 9 tuổi mất cha mất mẹ, đang đói khát nhưng vẫn từ chối sự ưu tiên hơn người khác được cả thế giới biết đến, mà còn có cả ngàn em học sinh Nhật khác trong hoàn cảnh tương tự vẫn luôn luôn giữ tinh thần kỹ luật và lễ phép.
                        Những em nhỏ, có em còn được bồng trên tay, có em ngồi bên cạnh mẹ trong các nơi tạm cư, mặc dầu đói khát từ mấy ngày qua nhưng nét mặt của các em vẫm bình thản chờ đợi thức ăn mang đến. Những em bé này được dạy dỗ từ nhỏ tinh thần kỷ luật, tự trọng, danh dự và khắc kỹ... không phải chỉ học ở trường hay qua sách vở mà còn qua những tấm gương của người lớn trong những hoàn cảnh thực tế và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
                        Mai đây nếu có một cuốn sách giới thiệu những nét đẹp nhất, cao thượng nhất của con người sống trên hành tinh này thì cuốn sách đó không thể thiếu được những hình ảnh của người Nhật trong thiên tai vừa qua.
                        – — –
                        Trông người lại nghĩ đến ta!
                        Trong bài Góc ảnh chiếu từ nước Nhật, nhạc sĩ Tuấn Khanh (ở VN) đã viết một câu thật thấm thía:
                        “Đôi khi giữa những hoang tàn đó của nước Nhật, người ta bừng sáng hy vọng và đôi khi sống giữa những điều được gọi tên là bình yên của đất nước mình, một người Việt Nam vẫn có thể cảm nhận được những ảnh chiếu sắc cạnh của sự hoang tàn.”
                        Một số người đặt câu hỏi: Nếu tai họa như nước Nhật xảy ra tại VN thì chuyện gì sẽ xảy ra? Ông Mạc Việt Hồng đã diễn tả bức tranh đó như thế này:
                        – Động đất có khi chết 200 nhưng giẫm đạp lên nhau mà chạy, chết thêm nghìn nữa.
                        – Các ban ngành sẽ họp bàn cách cứu hộ từ ngày này qua ngày kia.
                        – Cướp giật hôi của sẽ phổ biến, hoa người ta còn cướp giật nói chi tới đồ ăn hay tiền bạc vào lúc hỗn quan hỗn quân như vậy. Người đi hôi của sẽ nhiều hơn người đi cứu trợ.
                        – Nếu có phát khẩu phần ăn sẽ chẳng có hàng lối gì, bà già trẻ nhỏ sẽ bị chen cho bẹp ruột, ai thắc mắc hay nhìn đểu mấy kẻ chen lấn, thì “bố cho mày mấy chưởng”.
                        – Sẽ xuất hiện đủ loại cò: Cò mua, cò bán, cò di tản, cò cứu trợ, cò bệnh viện… tha hồ chặt chém đồng bào.
                        – Tiền và hàng cứu trợ sẽ vào tay dân thì ít, cửa quan thì nhiều.
                        - Ai muốn người nhà mình đang kẹt trong đống đổ nát được đào bới, tìm kiếm trước thì hãy chi đẹp cho đội cứu hộ.
                        – Khu nào có quan chức ở thì được ưu tiên cứu hộ trước, khu nào dân đen sinh sống thì cứu sau.
                        – Cửa hàng sẽ thi nhau tăng giá, bắt chẹt những người khốn khổ.
                        – Tổ chức nào, tôn giáo nào muốn cứu trợ thì phải được sự đồng ý của Mặt trận Tổ quốc và các cấp chính quyền kẻo các “thế lực thù địch” lợi dụng.
                        v.v..
                        Tôi không nghĩ là ông Mạc Việt Hồng nói quá đáng. Chúng ta cũng không cần phải có kinh nghiệm thực tế, chỉ cần đọc qua báo trong nước sau mỗi lần có thiên tai cũng đủ biết là những ghi nhận trên của tác giả không sai chút nào. Nói chung nạn nhân nếu muốn sống sót phải làm theo bản năng “mạnh được yếu thua” hay “khôn nhờ dại chịu,” còn quan chức chính quyền thì coi đó như thời cơ để kiếm tiền.
                        Ngay tại hải ngoại, nếu thiên tại xảy ra tại những nơi tập trung đông đúc người Việt, phản ứng của người dân có thể không tệ như trong nước nhưng chắc chắn bức tranh đó cũng sẽ không được đẹp đẽ cho lắm.
                        Có thể có những quý vị nghĩ rằng: không nên quá đề cao người khác và rẻ rúng thân phận của mình—vì phải giữ lại niềm tự hào dân tộc. Riêng tôi thì không đồng ý với những quan điểm như thế.
                        Có hãnh diện gì khi nói ra những điều không hay về chính dân tộc mình, người viết cũng là người Việt, cũng có tất cả những thói hư tật xấu của người VN. Nhưng thiết nghĩ, muốn thoát khỏi sự thua kém, trước hết phải dám can đảm biết nhìn lại chính mình, phải biết mình tốt chỗ nào, xấu chỗ nào, đang đứng tại đâu và cần phải làm những gì. Cũng giống như một người sinh ra trong một gia đình nghèo khó bất hạnh, phải biết chấp nhận số phận đó, nhưng chấp nhận để tìm cách vươn lên chớ không phải chấp nhận để đầu hàng hoàn cảnh. Gần một trăm năm nước đây, Lỗ Tấn từ bỏ nghề y chuyển sang viết văn để mong đánh thức được dân tộc Trung Hoa ra khỏi căn bệnh bạc nhược bằng những toa thuốc cực đắng như AQ chính truyện, gần đây nhà văn Bá Dương tiếp nối tinh thần đó với Người Trung Quốc xấu xí cũng được nhiều đồng bào của ông cho đó là một đóng góp đáng kể. Cuộc cách mạnh Duy Tân của Minh Trị Thiên Hoàng vào giữa thế kỷ 19 chắc chắn sẽ không thành công được như vậy nếu những nhà tư tưởng của Nhật lúc đó không vạch ra cho đồng bào của họ thấy được những những cái yếu kém trong văn hóa truyền thống cần phải bỏ đi để học hỏi những cái hay của Tây Phương, nhà văn Miyake Setsurei, dành riêng một cuốn sách công phu Người Nhật xấu xa xuất bản năm 1891 để đánh thức người Nhật ra khỏi căn bệnh lạc hậu.
                        Chúng ta chỉ có thể yêu nước nếu chúng ta có niềm tự hào dân tộc. Nhưng tự hào vào những điều không có căn cứ hay không có thật sẽ có tác dụng ngược như những liều thuốc an thần.
                        Những tự hào giả tạo này có khi vì thiếu hiểu biết, có khi vì mưu đồ chính trị của kẻ cầm quyền như những gì mà người CS đã làm đối với dân VN trong hơn nửa thế kỷ qua, và tác hại của nó thì ngày nay chúng ta đã thấy rõ.
                        Người Việt có những mâu thuẫn kỳ lạ. Chúng ta mang tự ái dân tộc rất cao nhưng đồng thời chúng ta cũng mang một tinh thần vọng ngoại mù quáng. Chúng ta thù ghét sự hiện diện của ngoại bang trên đất nước chúng ta bất kể sự hiện diện đó có chính đáng đến đâu, nhưng đồng thời giữa chúng ta cũng không tin lẫn nhau, xưa nay mọi giải pháp quan trọng của đất nước chúng ta đều trông chờ vào người ngoại quốc, chớ không tự quyết định số phận của mình.
                        Mỗi khi nói về những tệ hại của đất nước VN hiện nay đa số chúng ta thường hay đổ hết trách nhiệm cho người Cộng Sản. Thật sự Cộng Sản không phải là thành phần duy nhất chịu trách nhiệm cho những bi kịch của đất nước hôm nay, họ chỉ là sản phẩm đương nhiên của một nền văn hóa thiếu lành mạnh. Nếu Cộng Sản là nguyên nhân của mọi sự xấu xa thì thành phần người Việt đang sống tại những quốc gia văn minh và giàu có nhất thế giới như Hoa Kỳ, Canada, Úc… phải là những người thể hiện nếp sống văn hóa cao xứng đáng với xã hội văn minh mà họ thừa hưởng. Nhưng không, những người Việt đó, tuy khá hơn người trong nước nhưng vẫn thua kém nhiều sắc dân khác, vẫn mang tất cả những khuyết tật mà cụ Phan Bộ Châu, Phan Chu Trinh đã nêu ra gần một trăm năm trước. Vẫn chia rẽ, vẫn tỵ hiềm nhau, vẫn xâu xé lẫn nhau, có khi chỉ vì bất đồng quan điểm, có khi chỉ vì một quyền lợi thật nhỏ, thậm chí có khi chỉ vì một hư danh.
                        Không phải là một tình cờ của lịch sử mà chủ nghĩa Cộng Sản đã dành được những thắng lợi trong cuộc cách mạnh mùa thu năm 1945, và luôn luôn giữ thế thượng phong trên đất nước VN từ đó đến nay. Dân tộc VN đã chọn Hồ Chí Minh thay vì Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim… hoàn toàn không phải vì Hồ Chí Minh giỏi hơn, yêu nước hơn, nhiệt tình hơn những người kia, nhưng chỉ vì Hồ Chí Minh đáp ứng đúng tâm lý của người Việt—đó là tâm lý tôn thờ bạo lực. Chắc chắn không có nước nào trên thế giới này mà bài Quốc Ca có câu sắt máu như thế này: “Đường vinh quang xây xác quân thù,” mà “quân thù” đó bất cần là ngoại bang hay đồng bào ruột thịt, nghe mà rợn người. Khẩu hiệu của phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh vào những năm 1930, 31 do đảng Cộng Sản lãnh đạo là: “Trí, phú, địa, hào / Đào tận gốc trốc tận rễ.”
                        Đối với người VN bạo lực có sức quyến rũ hơn là nhu cầu khai sáng trí tuệ để giải quyết vấn đề một cách ôn hòa. Hồ Chí Minh chọn chủ nghĩa Cộng Sảndựa trên bạo lực cách mạng và đấu tranh giai cấp. Giải pháp bạo lực này đòi hỏi phải luôn tồn tại một kẻ thù làm đối tượng. Hết kẻ thù thực dân phải tìm ra một kẻ thù khác để có lý do hành động, chính vì thế cho nên máu và nước mắt vẫn tiếp tục rơi trên đất nước VN trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.
                        Hoàn toàn trái ngược với Hồ Chí Minh, Phan Chu Trinh chọn giải pháp “Khai Dân trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân sinh.” Theo ông, muốn thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang và sự nghèo khổ lạc hậu, trước hết phải nâng cao dân trí, mở mang trí tuệ. Dân trí cao người dân sẽ ý thức được quyền làm người, quyền dân tộc, rồi từ đó sẽ tranh đấu bằng giải pháp chính trị để giành độc lập. Dân trí thấp kém cho dù có dành được độc lập thì vẫn tiếp tục là một dân tộc nô lệ ở một hình thức khác.
                        Có thể nói trong lịch sử hiện đại của VN, ông là một trong những người Việt hiếm hoi nhìn ra nguyên nhân mất nước, nguy cơ dân tộc, không phải ở đâu khác mà là trong văn hóa, từ văn hóa mà ra.
                        Sau Đệ Nhị Thế Chiến có gần 30 nước dành được độc lập, phần lớn không đổ một giọt máu, chỉ có vài nước chọn chủ nghĩa Cộng Sản trong đó có VN, phải trả bằng máu và nước mắt của hàng triệu sinh mạng để cuối cùng trở thành một trong những nước nghèo khổ và lạc hậu nhất thế giới. Chọn lựa này là chọn lựa của dân tộc của VN chớ không phải do sức ép của ngoại bang hay một lý do gì khác. Người Cộng sản biến dân tộc VN trở thành một lực lượng tiên phong trong cuộc tranh chấp giữa hai khối Cộng Sản và Tự Do và luôn luôn hãnh diện với thế giới về một dân tộc "bước ra khỏi cửa là thấy anh hùng".
                        Hà Sĩ Phu đã có nhận xét rất đúng là giữa Hồ Chí Minh và Phan Chu Trinh, dân tộc VN đã chọn Hồ Chí Minh và những bi kịch của đất nước hôm nay là cái giá phải trả cho sự chọn lựa đó.
                        Thật cay đắng cho những người hết lòng vì nước vì dân như Phan Chu Trinh, mặc dầu nhìn xa thấy rộng, tư tưởng nhân bản, kiến thức uyên bác, lòng yêu nước và nhiệt tình có thừa, nhưng cuối cùng Phong Trào Duy Tân của cụ đã thất bại chỉ vì không được sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng, ngay cả cụ Phan Bội Châu—một đồng chí thân thiết với cụ trong nhiều năm cũng không ủng hộ quan điểm của cụ.
                        Là một người yêu nước chân thật ông không tự lừa dối mình và lừa dối dân tộc của mình bằng những chiêu bài mị dân, những điều tự hào không có thật. Ông là người nhìn thấy được vấn đề, và cố gắng đi tìm một phương thuốc cứu chữa.
                        Nhưng tại những nơi mà lưỡi gươm có tác dụng mạnh hơn ngòi bút thì những tiếng nói nhân bản như ông trở thành những tiếng kêu giữa sa mạc hoang vắng và ông trở nên lạc lõng trong một xã hội mà nếp suy nghĩ hủ lậu đã bám rễ quá lâu và quá chặt, trở thành một căn bệnh trầm kha hủy hoại đất nước và làm cho dân tộc sa vào vòng nô lệ.
                        Nhìn qua đất nước Nhật Bản, một dân tộc có chiều dài lịch sử gần giống như chúng ta, có diện tích gần bằng, dân số không chênh lệnh mấy (127 triệu so với 87 triệu), cũng chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và Khổng Giáo, không khỏi làm cho chúng ta đau lòng khi thấy được sự khác biệt quá lớn giữa hai đất nước. Sự khác biệt về kinh tế, sự giàu có tiện nghi không phải là điều quan trọng, chủ yếu là sự khác biệt về cách suy nghĩ (mentality) giữa hai dân tộc. Vào thời điểm 1858, khi người Pháp bắt đầu xăm lăng VN thì dân ta vẫn còn u mê bám vào những giá trị đã lỗi thời, người Nhật tức thời bỏ những truyền thống hủ lậu, học hỏi những cái hay của Tây Phương để bắt kịp họ. Đến thời điểm sau Đệ Nhị Thế Chiến, VN muốn trở thành biểu tượng của một dân tộc anh hùng, người Nhật biết nuốt nhục của kẻ thua trận chịu sự đô hộ của Mỹ, tận dụng lòng mã thượng của kẻ chiến thắng, dồn mọi sinh lực dân tộc để vươn lên thành một cường quốc kinh tế.
                        Tại sao lại có sự khác biệt như vậy? Những nghiên cứu công phu và nghiêm chỉnh của các cơ quan quốc tế gần đây như Cơ quan Phát Triển Liên Hiệp Quốc (United Nations Development Program – UNDP) đã chứng minh một cách thuyết phục rằng sự chênh lệnh giàu nghèo giữa các quốc gia chủ yếu không phải do yếu tố địa lý, tài nguyên thiên nhiên, tôn giáo, chủng tộc… mà chủ yếu là do yếu tố văn hóa. Văn hóa quyết định tất cả. Văn hóa tạo ra nếp suy nghĩ (mentality) của mỗi dân tộc, và chính nếp suy nghĩ này làm cho mỗi dân tộc có ứng xử khác nhau khi đương đầu với cùng một thử thách. Tại sao có những dân tộc mà quan chức chính phủ tham nhũng cả hàng triệu đô la như ở các nước Phi Châu hay VN ngày nay mà mọi người vẫn xem đó là chuyện bình thường, trong lúc đó tại một nước khác—một bộ trưởng chỉ vì nhầm lẫn nhận 600 đô cho quỹ tranh cử đã phải xin lỗi quốc dân rồi từ chức?[1] Tại sao một quốc gia nhỏ bé như Do Thái chưa tới 3 triệu dân,[2] có thể chiến thắng cả khối Á Rập trong cuộc chiến năm 1967 và tồn tại vững mạnh cho đến ngày hôm nay? Trong lúc đó có những nền văn minh đã từng một thời ngự trị thế giới mà ngày nay biến mất… và còn cả ngàn thí dụ khác để chứng minh rằng chính yếu tố văn hóa quyết định sự tồn vong và sự lớn bé của mỗi dân tộc.
                        Những dân tộc như Đức, Nhật, Do Thái, Thụy Sĩ, Hòa Lan, Hoa Kỳ… cho dù bị thiên tai tàn phá đến đâu, cho dù sống ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng vẫn có thể vươn trở thành những nước giàu mạnh, trái lại những xứ như Iraq, Nigeria, Venezuela, Angola, Libya... mặc dầu tràn ngập dầu hỏa nhưng vẫn là những nước nghèo.
                        Bước ngoặc quan trọng nhất đã làm thay đổi khoảng cách giữa ta và Nhật chính là cuộc cách mạng Duy Tân tại Nhật bắt đầu từ năm 1868. Trong lúc người Nhật tức thời thay đổi thì các vua chúa VN vẫn còn ngủ mê bên trong các bức tường cung điện ở Huế. Họ không thấy được thế giới đã thay đổi, vẫn tiếp tục tôn sùng và thần tượng Trung Quốc trong lúc nước này đã bị thua thê thảm trước sức mạnh của Tây Phương.
                        Vào tháng 7 năm 1853 khi triều đình Tokugawa từ chối không cho Thuyền trưởng người Mỹ Mathew Perry lên bờ để trao bức thư của Tổng Thống Fillmore, ông ra lệnh bắn vào thành phố Edo (Tokyo ngày nay). Những quả đại bác này đã làm cho người Nhật thức tỉnh ngay. Lòng ái quốc và niềm tự hào dân tộc đã làm cho họ đoàn kết lại để tìm cách giúp đất nước thoát khỏi nguy cơ nô lệ. Chính sự thức tỉnh này đã mở đầu cuộc cách mạng Minh Trị Duy Tân kéo dài 44 năm. Đó là một cuộc cách mạnh đúng nghĩa, một cuộc cách mạng triệt để, họ làm đến nơi đến chốn, kẻ đi Mỹ, người đi Âu Châu, kẻ đi chính thức người đi lậu bằng cách trốn xuống tàu buôn Tây Phương như trường hợp của thần đồng Yoshida Shôin, tất cả đều cùng một mục đích là tìm đến tận nguồn cội của nền văn minh để học hỏi những cái tinh túy mang về thay đổi đất nước. Họ từ bỏ một cách dứt khoát tất cả những cái cũ không còn hợp nhưng không để mất tinh thần độc lập. Họ không phải chỉ có một ông vua Minh Trị hết lòng yêu nước mà cả trăm ngàn những tấm lòng như thế quyết tâm đưa nước Nhật lên vị trí ngang hàng với các nước Tây Phương.
                        Khi nói đến cuộc Duy Tân Minh Trị nhiều người vẫn lầm tưởng đó là cuộc cách mạng kỹ nghệ, mở cửa để giao thương và học hỏi kỹ thuật của Phương Tây. Thật sự không phải như thế, học hỏi kỹ thuật chỉ là mặt nổi, chủ yếu là người Nhật học hỏi những tinh túy về tư tưởng của người Tây Phương để khai sáng trí tuệ cho dân tộc của họ.
                        Chỉ có vài quả bom của Thuyền Trưởng Mathew Perry đã làm cho người Nhật thức tỉnh, trong lúc đó nhìn lại đất nước chúng ta, kể từ thời điểm 1853 cho đến hôm nay đã có hàng trăm ngàn quả bom đã rơi xuống đất nước Việt Nam, không những chỉ tàn phá hình hài đất nước mà còn làm tan nát tâm hồn dân tộc với bao sự ngậm ngùi, nhục nhã đắng cay của một dân tộc nhược tiểu. Nhưng tất cả những nỗi đau đó vẫn chưa đủ để làm cho người Việt thức tỉnh, để thấy cần phải có một nhu cầu thay đổi cần thiết như người Nhật đã làm từ giữa thế kỷ thứ kỷ 19.
                        Vào tháng 8 năm 1858 người Pháp bắt đầu cuộc chiến xăm lăng đất nước VN, trước đó vào mùa thu năm 1847 để phản đối chính sách cấm đạo của vua Thiệu Trị, Trung tướng Rigault de Genouilly đã bắn chìm 5 chiếc thuyền của Việt Nam, năm 1842 Trung Quốc đã bại trận thê thảm trước sức mạnh của Tây Phương trong cuộc chiến Nha Phiến. Nhưng tiếc thay tất cả những dấu hiệu cảnh cáo đó vẫn chưa đủ để làm cho triều đình nhà Nguyễn thức tỉnh. Đến lúc đó họ vẫn không nhận ra rằng đất nước đang đứng trước khúc quanh của lịch sử. Từ thời điểm năm 1842 hay 1847 cho đến 1858, đó là một khoảng thời gian rất dài (14 năm), nếu các vua nhà Nguyễn thức thời, khôn khéo như các vua chúa Nhật Bản thì đất nước chúng ta đâu phải chịu 80 năm đô hộ của người Pháp và đâu phải chịu tai họa Cộng Sản kéo dài đến hôm nay.
                        Phạm Hoài Nam
                        – — –
                        Ghi chú:
                        1. Ngoại trưởng Nhật Seiji Maehara từ chức ngày 6 Tháng Ba 2011 vì nhận 600 Mỹ kim cho quỹ chính trị từ một người ngoại quốc.
                        2. Dân số Do Thái vào thời điểm 1967 là 2.7 triệu người.

THƠ ĐƯỜNG : XƯỚNG HOẠ

Tuổi Đời
Tuổi đến hôm nay chẳng thấy thừa
Cuộc đời chữ nghĩa vẫn như xưa
Hè về sách vở khó mà chán
Thu đến thi văn thật dễ ưa
Non nước hữu tình chưa thấy đủ
Trăng sao tri kỷ mấy cho vừa
Trời cho mạnh khỏe thì vui sống
Bỏ mặc ngoài song chuyện nắng mưa.
Sóng Việt
29 tháng Sáu 2011

Tuổi Trời
Ngày trời tháng phật có đâu thừa
Sức khỏe, dáng hình dẫu khác xưa
Xuân đến nhìn hoa không thấy chán
Hè sang nắng ấm cõi lòng ưa
Thu về man mác thơ nào đủ
Đông lại thương quê mấy chẳng vừa
Hiện tại, chốn này chân thật sống
Thân như sương sớm, ráng sau mưa!
Lộc Bắc
Canada Day


Xin cảm ơn DS Nguyễn Trong Lộc đã có hứng họa bài thơ, với tất cả chữ cuối đều cùng chữ. Bài thơ có ý nghĩa.

SV có chút hứng làm thơ DDường vì cảm hứng từ cuốn sách thơ Kỉnh Chỉ (Kỉnh Chỉ là một vị Bác sĩ, ông ngoại của một người bạn Trung học). Kỉnh Chỉ hầu như toàn làm thơ có niêm luật, và rất hay. THơ nói vế nhân tình thế thái, bạn bè thân sơ với sự trang trọng và quý mến.

Nhưng hình như hiện nay, phong trào làm thơ trào phúng thơ đuờng dung tục đã là cái nghiệp dư cho một vị số thích làm thơ, điều này đã làm mất cái thanh nhã của thơ DDuờng, đáng tiếc thay!

Sóng Việt chia xẻ thơ với quý đồng nghiệp trong diễn đàn chuyên môn mà thôi, tuy nhiên xin cảm ơn nếu bị chuyển ra ngoài nhưng thật không cần thiết.

SV

Chị Đàm Giang thân
Tôi mới đọc xong vài bài viết về nhà thơ Kỉnh Chỉ, Bác Sĩ Phan văn Hy (1880-1970). Thơ của cụ rất nghiêm túc, rất đáng đọc.
Đọc xong làm thêm được bài họa như sau, xin gởi chị và anh Tịnh đọc chơi nhân tuần lễ mới.
Thân
NTL

BÁ NHÂN…
Bằng hữu hiếm hoi chẳng có thừa
Dễ gì đông đủ được như xưa
Kẻ cho thanh thoát, thơ không chán
Người phải phong lưu, thế mới ưa
Cựu chỉ chân phương là thấy đủ
Tân bày đủ thứ cũng chưa vừa
Làm sao hòa hợp cùng vui sống?
Dọn cỗ, chia mâm khỏi gió mưa!
Lộc Bắc
03/07/2011

Chị Đàm Giang nhận xét rất đúng về bài họa của anh Lộc, làm cho nhà thơ cao hứng họa thêm một bài thật độc đáo nữa.
Bắt chước anh Lộc, tôi cũng xin góp một bài:

XƯỚNG HỌA
Tham gia xướng họa hẳn không thừa
Bạn mới chan hòa với bạn xưa.
Trọng Lộc họa thơ không thấy chán,.
Đàm Giang phóng bút chỉ thêm ưa.
Hồn thơ lai láng sao cho đủ,
Cảm xúc trào tuôn mấy mới vừa.
Bằng hữu thân tình, vui cuộc sống
Cho đời tươi thắm, nắng hay mưa.
Tịnh Phan
05-07-2011

7/03/2011

CÒN GẶP NHAU

Còn gặp nhau

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi,
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời.
Tôn Nữ Hỷ Khương


Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương,
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.
Tôn Nữ Hỷ Khương

Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi
Bao nhiêu thú vị ở trên đời,
Vui chơi trong ý tình cao nhã
Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời.
Tôn Nữ Hỷ Khương


Còn gặp nhau thì hãy cứ cười
Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi
Cho hương thêm ngát, đời thêm vị
Cho đẹp lòng tất cả mọi người.
Tôn Nữ Hỷ Khương


Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giữa miền đất rộng với trời cao,
Vui câu nhân nghĩa, tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau.
Tôn Nữ Hỷ Khương

Còn gặp nhau thì hãy cứ say
Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc, say bè bạn
Quên cả không gian lẫn tháng ngày.
Tôn Nữ Hỷ Khương

Còn gặp nhau thì hãy cứ đi
Đi tìm chân lý - lẽ huyền vi
An nhiên tự tại - lòng thanh thản
Đời sống tâm linh thật diệu kỳ.
Tôn Nữ Hỷ Khương

Đọc thơ Tôn Nữ Hỷ Khương
Từ xưa đến nay có muôn ngàn câu thơ lưu luyến qua bao thế hệ. Nhưng có những câu thơ mà cứ đọc lên ai cũng cảm thấy lòng mình rung động, xao xuyến, êm ái, nhẹ nhàng,
nghe rồi nhớ mãi không quên, vì thơ đã đi thẳng, đi sâu vào lòng người. Đó là trường hợp của thơ Tôn Nữ Hỷ Khương.
Thơ Tôn Nữ Hỷ Khương đã nói lên được bằng vần điệu những tâm tư thầm kín của mọi người, cũng đã cho thấy rõ con người của tác giả, là luôn coi trọng chữ Tâm:
“Sống trên đời gắng giữ trọn chữ Tâm
và nhất niệm báo ân – đừng báo oán.”
Và cả đời đã sống vì tình, một thứ Tình Người rộng rãi bao la:
“Trước sau chỉ một chút tình,
Thiết tha, trân trọng để dành cho nhau.”
Khi vui luôn có nhau trong tình tri kỷ. Lúc buồn cũng có nhau trong tình tương ái tương thân, nói với nhau những lời yêu thương dịu ngọt, cho nhau những nụ cười, những niềm vui, những ngọt bùi,
để khi theo quy luật tự nhiên, luật vô thường, mọi vật đều có thể mất đi, thì “chỉ có Tình Thương để lại đời!”.
Trong thi phẩm của Tôn Nữ Hỷ Khương tôi tin rằng những bài thơ này sẽ lưu lại trong lòng mọi người nay và cả mai sau.
GSTS Trần Văn Khê

7/02/2011

CÔNG DỤNG CỦA GINKGO BILOBA (BẠCH QUẢ)

Công dụng của Ginkgo Biloba (Bạch Quả)


 
                                                         DS Trịnh Nguyễn Đàm Giang

Nhập đề


Ginkgo biloba được dùng để điều trị giai đoạn sớm của bệnh Alzheimer, sa sút trí tuệ (lú lẫn), khấp khểnh ngoại biên do mạch, ù tai do mạch gây nên. Nhiều nghiên cứu thử nghiệm tìm hiểu sự hiệu nghiệm của ginkgo để điều trị bệnh mạch não, và sa sút trí tuệ và duyệt xét các nghiên cứu có tổ chức đã cho biết sản phẩm làm từ ginkgo có thể làm khả quan hơn những triệu chứng của lú lẫn.
Ginkgo thường được dung nạp tốt, nhưng có thể tăng nguy cơ chảy máu nếu dùng chung với warfarin, thuốc chống tiểu cầu, và khi dùng chung với một số dược thảo khác. Bài viết sau đây nói về sự an toàn lâm sàng, liều, thời gian dùng, dược học của Ginkgo (Am Fam Physician 2003;68:923-6).

Ginkgo biloba
Chiết xuất từ lá Ginkgo biloba được dùng rộng rãi nhất ở Âu châu để trị giai đoạn đầu của bênh Alzheimer, sa sút tri thức do mạch, khấp khểnh ngoại biên do mạch, ù tai xuất xứ do mạch. Ginkgo cũng là 1 trong mười dược thảo bán chạy nhất trên nước Mỹ. Có hơn 120 nghiên cứu lâm sàng về Ginkgo, hầu hết từ Âu châụ
Điều chế chuẩn cho chiết xuất ginkgo là EGb 761. Tại Mỹ, ginkgo được sắp vào loại phụ trợ tiết thực, loại dùng tương đương với EGb 761 được nghiên cứu ở đây là Ginkgold, Ginkoba, và Ginkai.
Điều chế chuẩn chứa 24 % ginkgo flavonoid glycosides, 6 % terpene lactones, và không nhiều hơn 5 phần trong 1 triệu ginkgolic acids.(1,2)

Cơ chế tác dụng của ginkgo

Hai hoạt chất Ginkgolide B (một diterpene) và sesquiterpene bilobalide trong chiết suất ginkgo biloba làm tăng tuần hoàn trong não cùng làm tăng chịu đựng của mô khi thiếu oxygen, được coi như là một chất bảo vệ thần kinh, chống oxy hóa, ăn gốc tự do (a free-radical scavenger), ổn định màng, và ngăn cản yếu tố kích hoạt tiểu cầu (platelet-activating factor) (3,4). Những tác dụng dược học khác gồm làm thư giãn nội mô (endothelium) qua sự ngăn chặn 3',5'-cyclic GMP (guanosine monophosphate) phosphodiesterase, ngăn chặn bớt mất độ nhày của thụ thể choline gây nhày (muscarinergic cholinoceptors), thụ thể gây tiết adrenaline, và kích thích tái hấp choline ở chân hải mã (hippocampus) (5,6). Chiết xuất ginkgo đã được biết có thể ngăn cản sự đóng tụ mảng beta amyloid.(7)

Công dụng và Hiệu nghiệm của gingko trong bệnh mạch não, lú lẫn, bồi bổ trí nhớ
Một thu thập đọc lại một cách quy mô tám nghiên cứu ngẫu nhiên (8) , mù đôi, có kiểm soát với thuốc vờ đã kết luận rằng ginkgo có hiệu nghiệm nhẹ làm giảm triệu chứng sa sút tri thức, và thiếu hụt của não ngang với trị liệu bắng thuốc ergoloid mesylates (Hydergine).
Một phân tích tổng hợp đa thống kê (meta-analysis/siêu phân tích) nhìn đến 50 nghiên cứu (9) cho biết có bốn nghiên cứu hội đủ tiêu chuẩn cho một thử nghiệm lâm sàng. Trong một nghiên cứu với 212 người trong hai nhóm thuốc vờ và gingko, kết quả nói chung là có hiệu nghiệm có thể so sánh với lợi ích của donezepil (Aricept) (10). Hiệu nghiệm ở đây được đo bằng cách dùng cân nhận thức đo lường mức bệnh Alzheimer, cùng những cách đo nhận thức theo tiêu chuẩn khác.

Ở những nghiên cứu mà dược thảo được dùng ít nhất là 6 tháng cho thấy chiết xuất của ginkgo và thuốc áp chế cholinesterase thế hệ thứ hai có hiệu nghiệm như nhau khi dùng điều trị sa sút tri thức ở bệnh nhân bị AD nhẹ hay trung bình (11). Một thu thập đọc lại khác với chín nghiên cứu về ginkgo cho biết chất này an toàn và có hiệu nghiệm hơn thuốc vờ nhưng nghiên cứu gia vẫn ngại ngùng trong vấn đề khuyến khích vì còn chờ thêm nghiên cứu khác tốt hơn (12).

Một nghiên cứu từ Hoà Lan (13) với 214 bệnh nhân trong vòng 24 tuần dùng liều trung bình (160 mg/ ngày), liều cao (240 mg/ngày), hay thuốc vờ không cho thấy có sự tiến triển cho giảm trí nhớ liên quan đến tuổi già, hay sa sút trí tuệ nhẹ trong những đo lường đánh giá tập tính và điều kiện thần kinh tâm thần. Tuy nhiên nghiên cứu này có khuyết điểm vì đã kể cả người mất trí nhớ vì tuổi già mà không phải chỉ dùng những người bị sa sút trí tri thức, điều này làm giới hạn kết luận của nghiên cứu này về vai trò của ginkgo (14).

Một nghiên cứu ngẫu, vờ có kiểm soát về hiệu nghiệm của ginkgo ở những người khỏe mạnh, không bị sa sút tri thức, hay những suy kém tinh thần khác cho thấy với liều thấp (120mg/ngày) không có ích lợi chi (15). Một nghiên cứu khác với liều cao hơn (180 mg/ngày) thì lợi ích về tăng nhận thức có hiệu quả đáng kể (16).

Khấp khểnh cách hồi (Intermittent claudication)
Ginkgo còn được dùng để làm tăng sự lưu thông máu trong mạch ngoại biên giúp cho vận chuyển ở bệnh nhân bị bệnh khấp khểnh cách hồi đi lại dễ dàng hơn. Một meta-analysis gồm 8 nghiên cứu cho biết ginkgo có chút hiệu nghiệm giúp đi lại không đau (17). Một thử nghiệm so sánh liều 120 mg với 240 mg cho thấy liều cao có kết quả tốt hơn liều thấp (18).

Ù tai
Ginkgo còn được dùng trong chỉ định chống ù tai. Một nghiên cứu chỉ dùng phương pháp hỏi đáp và phỏng vấn 1121 người qua điện thoại không thấy có sự hiệu nghiệm của ginkgo để làm giảm ù tai (19). Một thử nghiệm khác ngẫu nhiên, có kiểm soát với 103 bệnh nhân cho thấy 50% số bệnh nhân vừa mới bị ù tai thấy giảm nhiều hay triệu chứng biến mất trong vòng 70 ngày so với 119 ngày với người nhận thuốc vờ (20). Nghiên cứu xét lại năm thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát kết luận ginkgo biloba có hiệu nghiệm đôi chút để điều trị chứng ù tai (21).

Những công dụng khác
Ginkgo còn được tường trình là có hiệu nghiệm cho bệnh rối loạn tình dục vì dùng thuốc SSRIs (22), trị khó chịu khi leo núi cao, giảm phản ứng dễ bị lạnh (23), giúp khá hơn bệnh thoái hoá điểm vàng trong mắt (24), suyễn, và thiếu giảm oxy trong máu, trong mô (25).

Phản ứng phụ, Tương tác thuốc
Sư tương tác được biết đến và đáng kể nhất là giữa Ginkgo và thuốc chống đông máu warfarin, vì hoạt tính của ginkgo gồm cả ngăn chặn yếu tố kích hoạt tiểu cầu. Bởi vậy nếu dùng ginkgo với warfarin, hay những chất chống tiểu cầu, làm loãng máu khác như aspirin, dipyridamol, ticlopidine, heparin thì cần phải theo dõi kỹ lưỡng. Một nghiên cứu đề nghị bệnh nhân nên ngưng uống ginkgo từ 36 giờ đến 14 ngày trước khi dự trù giải phẫu (26).

Liều cao Ginkgo có thể làm giảm hiệu nghiệm của thuốc trị động kinh như valproic acid hay carbamazepine.
Ginkgo có thể cũng có lợi ích khi dùng chung với cyclosporine vì đặc tính bảo vệ màng mô.
Ginkgo có thể có hiệu nghiệm giúp trị rối loạn tình dục khi dùng chung với papaverine khi chất này không cho hiệu quả mong muốn khi dùng một mình.
Một trường hợp bệnh nhân bị hôn mê khi dùng chung với trazodone.

Một trường hợp tường trình cho hay có thể có tương tác với thuốc lợi tiểu thiazide làm áp huyết bệnh nhân tăng, và sau đó trở lại bình thường khi ngưng cả hai thuốc.

Những dược thảo khác dùng chung với ginkgo cũng có thể gây nguy cơ chảy máu gồm: feverfew, tỏi, sâm, dong quai, clover đỏ, và những coumarin thiên nhiên khác. Những trường hợp có biến chứng trầm trọng do dùng ginkgo gồm xuất huyết dưới màng cứng (27), xuất huyết dưới nhện (28), xuất huyết trong não (29), và xuất huyết trong phòng mắt trước thủy tinh thể (hyphaema) (30), lý do không biết rõ.
Chiết xuất lá ginkgo nếu tinh khiết thì không độc, nhưng chất ginkolic acid trong lá nếu hiện diện nhiều hơn số lượng cho phép thì sẽ gây độc hạị.

Phản ứng phụ của ginkgo thường nhẹ gồm buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy, nhức đầu, chóng mặt. hồi hộp, bứt rứt, suy nhược, và ngứa ngoài da.
Mặc dù không có nghiên cứu nào để hạn chế phụ nữ có bầu hay đang cho con bú dùng ginkgo, nhưng tốt nhất là nên khuyên họ đừng dùng ginkgo vì không có tài liệu chứng minh an toàn của thuốc (1,2).

Liều lượng
Với bệnh nhân bị khó nhớ, hay lú lẫn (xa xút trí tuệ) liều từ 120 đến 240 mg/ một ngày, uống hai hay ba lần
Ù tai và bệnh mạch ngoại biên: tối đa 160 mg một ngày chia làm hai hay ba lần
Thường cần một thời gian là 6 đến 12 tuần thì mới biết ginkgo có hiệu quả hay không.

Kết luận
Với số dân đến tuổi già mỗi lúc một nhiều hơn, số người bị xa xút trí tuệ và có vấn đề với đi lại càng ngày càng nhiều, ginkgo là một dược thảo có thể mang lại lợi ích chung. Ginkgo lại khá an toàn, rẻ tiền và có thể hỗ trợ thêm vào thuốc cho bệnh nhân bị bệnh Alzheimer để giảm bớt tình trạng xa xút tri thức. Chứng cớ cũng cho biết nó làm chậm được tiến triển của bệnh và nhẹ bớt triệu chứng. 

Điều quan trọng là người bệnh phải chọn lựa kỹ lưỡng loại ginkgo muốn dùng, sản phẩm cần hội đủ tiêu chuẩn lượng an toàn của terpene lactone và ginkgolic acids.

DS Trịnh Nguyễn Đàm Giang

(Tài liệu tham khảo: sẽ cung cấp nếu có lời yêu cầu).

MỘT TRƯỜNG HỢP BỆNH LAO KHÁNG THUỐC

MỘT CA BỆNH NHIỄM LAO KHÁNG THUỐC CỰC MẠNH TẠI VIỆT NAM
(EXTENSIVELY DRUG-RESISTANT TB)

 Ds Trịnh Đàm-Giang, Ds Lê-văn-Nhân, Ds Mai-Diễm-Tuyết

Bệnh nhân là 1 nữ sinh viên 23 tuổi đại học Dược Saigon, tên LP (lao phổi), ngụ tại ký túc xá sinh viên. Em này phát hiện bị lao cách đây 1 năm có lẽ do sống thiếu thốn chật hẹp trong ký túc xá, gia đình nghèo. Em đã được chửa từ tháng 3/07 đến tháng 11/07 với những thuốc sau:
Phác đồ 1:
-      RIF (Rifampicin) 0.15 g 3 viên/ngày
-      INH (Isoniazid) 0.3 g 1 viên/ngày
-      PZA (Pyrazinamide) 0.5 g 2 viên/ngày
-      EMB (Ethambutol) 0.4 g 2 viên/ngày.
Tất cả thuốc đều uống bụng đói buổi sáng.
-      kèm theo thuốc trợ gan Sylibean 1 viên x 2 lần/ngày (Carduus Marianus Extract hay milk thistle)(1) 200 mg, Thiamine HCl 8 mg, Pyridoxine HCl 8 mg, Nicotinamide 24 mg, Vitamin B12, Calcium panththenate.

Phác đồ 2:
Từ cuối tháng 11/07 đến tháng 2/08
-      tất cả thuốc trong phác đồ 1
-      cọng thêm SM (streptomycin) IM ¾ lọ/ngày

Kháng sinh đồ lấy mẫu trong tháng 11 và kết quả cấp ngày 12 tháng 2 cho kết quả sau:


Thuốc
nồng độ
µg/ml
INH
0.2
SM
4
RIF
40
EMB
2
OFLOX
2
TB1
10
ETHIO
40
CYCLO
40
KANA
20
PAS
0.5
PZA
0.5
Kết quả
R
R
R
R
R
S
S
S
R
S
R


GHI CHÚ: khuẩn lao chỉ còn nhạy cảm với TB1, Ethionamide, Cycloserine và PAS. Chúng tôi không biết TB1 là từ viết tắt của thuốc gì, nhưng bệnh nhân này đề kháng đến 7 thuốc chống lao, nên không những là MDR-TB (multi drug resistant-TB) mà còn là XDR-TB (extensively drug resistant TB).

Chúng tôi tham khảo bác sĩ Huỳnh-Đỗ-Phi, thành viên của DDDK, nhân viên CDC ( cơ quan kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa-kỳ) hiện đang công tác tại Việt-nam, thì được giải thích:

Theo hướng dẫn điều trị lao của Việt-nam gồm:
-      2 tháng SRHZ ( Streptomycin, Rifampicin, INH, Pyrazinamide (PZA)
-      hay 2 tháng RHEZ ( trong trường hợp này Streptomycin được thay bằng Ethambutol tức là Rifampicin, Isoniazid, Ethambutol,Pyrazinamide)
-      + 6 tháng HE (INH + Ethambutol)

Bác sĩ Huỳnh-Đỗ-Phi và bác s ĩ Vĩnh (từ Florida)  đã đến khám sinh viên này tại BV lao Phạm-ngọc-Thạch (Hồng-bàng cũ) và can thiệp cho em nhập viện vì sức khỏe quá yếu.

Các dược sĩ đưa em này vào bệnh viện cho biết phòng của em có 3 người và người nào cũng là lao đề kháng thuốc.Nhưng thân nhân đến thăm không ai chịu mang khẩu trang (mask) mặc dầu những trường hợp hợp này tại Hoa-kỳ phải cách ly bệnh nhân. Có người còn muốn ngủ lại với bệnh nhân trong phòng. Đây là điều chúng tôi quan tâm vì nếu không cảnh giác phòng ngừa bệnh, thì mức độ nhiễm lao ở Việt-nam sẽ tăng cao, và chi phí điều trị càng tăng vọt.

Thế nào là lao kháng nhiều thuốc? (MDR-TB: Multidrug-resistant TB):
Lao kháng nhiều thuốc là lao đề kháng ít nhất 2 trong số những thuốc tốt nhất chống lao, INH hay isoniazid và Rifampicin. Những thuốc này được xem là thuốc tuyến đầu và dùng để chửa tất cả bệnh nhân nhiễm lao.

Thế nào là lao kháng thuốc cực mạnh (XDR-TB: Extensively Drug-resistant TB): đây là 1 dạng hiếm của lao kháng nhiều thuốc . Lao kháng thuốc cực mạnh được định nghĩa là lao đề kháng với INH, Rifampin, ngoài ra còn đề kháng với bất cứ thuốc fluoroquinolone nào và ít nhất với 1 trong 3 thuốc tiêm tuyến 2 (amikacin, kanamycin, capreomycin hay streptomycin).

Vì lao kháng thuốc cực mạnh đề kháng với thuốc tuyến đầu và tuyến 2, bệnh nhân phải điều trị với những chọn lựa ít hiệu quả hơn.

Lao kháng thuốc cực mạnh là quan ngại đặc biệt cho bệnh nhân nhiễm HIV và những bệnh làm suy yếu hệ miển nhiễm. Những người này dễ mắc bệnh lao hơn một khi bị nhiễm và có nguy cơ tử vong cao khi phát sinh bệnh lao.

Tình hình lao kháng thuốc trên thế giới:
Theo báo cáo của tổ chức y-tế thế giới công bố ngày 02.26.08, tỷ lệ nhiễm lao kháng nhiều thuốc hiện nay ở mức cao nhất chưa từng có. Mỗi năm có khoảng nửa triệu ca MDR-TB, theo ước tính của WHO, khoảng 5% trong số 9 triệu ca nhiễm lao hàng năm.

Báo cáo lao kháng thuốc trên thế giới dựa trên thăm dò lớn về lao kháng thuốc trên toàn cu.Dữ liệu từ 90 000 bệnh nhân lao ở 81 quốc gia được thu thập từ 2002 đến 2006.Cũng trong báo cáo này, lần đầu tiên XRD-TB hay lao kháng thuốc cực mạnh được đề cập, đây là một dạng gần như không chửa lành được.XDR-TB tìm thấy hơn nửa số quốc gia nêu trên.

Baku, thủ đô của Azerbaijan, có tỷ số MDR-TB cao nhất, gần ¼ (22.3%) tất cả ca lao đề kháng nhiều thuốc; Những nơi khác như Moldova (19.4%), Donetsk ở Ukraine (16%), Tomsk Oblast ở Liên bang Nga (15%) và Tashkent ở Uzbekistan (14.8%). Những tỷ số trên đều cao hơn mức cao nhất WHO ghi nhận trong báo cáo công bố lần trước năm 2004.

Các nước Đông Nam Á gồm cả Việt-nam không báo cáo, và có lẽ bộ y-tế Việt-nam cũng không có được số liệu về MDR-TB và XDR-TB vì xét nghiệm mất nhiều thì giờ và tốn kém. Nhưng chúng tôi tin rằng với mức sống thấp và quá chật chội hiện nay tại các thành phố lớn, tỷ lệ nhiễm lao kháng nhiều thuốc ở Việt-nam không phải là thấp.

Một nghiên cứu tại ý của bác sĩ Besozzi và cộng sự đăng trên “Emerging Infectious Diseases” ngày 05.01.07, cho biết trong 2888 mẫu cấy TB dương tính thu thập d9u7o75c o73đức và Ý, 126 ca (4.4%) là MDR-TB và 11 ca (0.4%) là XDR-TB. Tác giả kết luận lao kháng thuốc  hay kháng thuốc cực mạnh do quản lý kém của chính phủ, kể cả lơ-là không chú ý bệnh này có thể đề kháng nên không có biện pháp đối phó với đề kháng thuốc.

Một bài báo khác ngày 01.11.08 trên tờ Pretoria News ở Nam Phi cũng cảnh báo XDR-TB có thể là nguy cơ cho sức khỏe quần chúng trầm trọng hơn cả nhiễm HIV/AIDS. Họ bảo cơ quan y tế nhà nước chưa làm đủ để chống bệnh. Tháng 11/07, bộ y tế Nam Phi xác nhận 481 ca XDR-TB và 216 người trong số này đã qua đời.

Điều trị lao kháng nhiều thuốc

1/ Những điều nên tránh:
-      ngưng thuốc lâu dài không điều trị có thể làm vi trùng lao đề kháng thuốc
-      tránh thuốc bệnh nhân đã dùng trước đây và không có kết quả
-      tránh thuốc gây độc hại cho bệnh nhân
-      tránh thuốc gây tương tác không cần thiết

2/ Nên chọn những thuốc nào tối ưu để chửa lao kháng nhiều thuốc?
Chọn thuốc tùy theo độ nhạy với kháng sinh trên kháng sinh đồ, chế độ thuốc điều trị trước đây, tình trạng sức khỏe bệnh nhân và những thuốc bệnh nhân đang dùng. Nên dùng những thuốc tuyến đầu còn nhạy cảm, 1 kháng sinh nhóm fluoroquinolone, 1 aminoglycosid và những thuốc uống thích hợp ở tuyến 2.

Trong thực hành, nên bắt đầu điều trị với 4-6 món thuốc chưa dùng trước đây. Thuốc tiêm sẽ ngưng sau 1 số tháng nếu thích hợp và những thuốc khó dung nạp sẽ bị loại dần, nhưng bệnh nhân phải hoàn tất điều trị với ít nhất 3 món thuốc đã chứng minh nhạy cảm trên kháng sinh đồ.

Tất cả thuốc nên uống 1 lần trong ngày để tránh đề kháng. Những thuốc như cycloserine, ethionamide,PAS với số lượng lớn bệnh nhân khó uống nỗi 1 lần, mới phải chia làm 2 hay 3 lần trong ngày.

Bệnh nhân lao kháng nhiều thuốc nên đưa vào bệnh viện để tránh lây lan và trong giai đoạn đầu , điều trị trong bệnh viện và uống thuốc trước mặt điều dưỡng tốt hơn là để bệnh nhân tự uống thuốc ở nhà.

Những thuốc đặc biệt:

FLUOROQUINOLONE:
Nhóm này có thể gây ra bệnh khớp (arthropathy) không nên dùng cho trẻ em quá nhỏ không than phiền đau ở khớp được như chưa ngồi dậy được, chưa bò được. Người lớn phải theo dõi xem họ có phát sinh bệnh đau khớp không.

Có lẽ nên dùng những fluoroquinolone tác dụng ở phổi như levofloxacin và gatifloxacin. Liều khởi đầu cho levofloxacin là 500 mg mỗi ngày, nếu dung nạp tốt, có thể tăng lên 750 mg mỗi ngày. nếu bệnh nhân nặng trên 45 Kg phải cố thử dùng liều 750 mg mỗi ngày.

Fluoroquinolone không nên dùng quá gần những thuốc chứa kim loại hóa trị 2 hay 3 như nhôm, Mg, kẽm thí dụ thuốc kháng acid.

AMINOGLYCOSID
Việt-nam thường tiêm bắp thay vì truyền tĩnh mạch, và thuốc này có thể dùng 2 hay 3 lần mỗi tuần và dùng cùng liều như khi tiêm ngày 1 lần. Chú ý đến tuổi tác, chức năng thận và đôi khi mức thuốc trong máu. Phải điều trị ít nhất 6 tháng, Bác sĩ có thể cho dùng lâu hơn nếu bệnh nặng hơn và nên dùng mức đỉnh thấp hơn để tránh độc tính.

CYCLOSERINE
Thuốc này khó tìm trên thị trường và giá đắt nên chỉ dùng trong trường hợp kháng thuốc mạnh. Thuốc có thể sinh chứng trầm cảm nên phải xem bệnh nhân có bệnh tâm thần không.Ngay tại Mỹ cũng không phải công ty xét nghiệm nào cũng nhận đo mức cycloserine trong máu, nên chúng tôi không biết Việt-nam có làm được không.

Xét nghiệm:
Vi trùng lao rất khó nuôi cấy phải chờ 3-4 tháng mới có kết quả, nên khó làm kháng sinh đồ. Tiến sĩ Lâm-Kim-Cương có bài giải thích dùng phương pháp PCR để tìm bệnh và tìm vi trùng đề kháng.

TDM (Therapeutic Drug Monitoring) là phương pháp đo mức thuốc trong máu để biết thuốc có hấp thụ đến mức điều trị không, và tránh liều quá cao có thể gây độc tính ở hệ thần kinh trung ương và tránh bị động kinh.

Cần thử mức cycloserine trong máu nếu muốn tăng liều. Với aminoglycosid, nên thử máu 2 tuần sau khi điều trị.

Phòng bệnh khi tiếp xúc với bệnh nhân kháng lao nhiều thuốc

Bác sĩ Nguyễn-Ý-Đức đã viết một bài đầy đủ về giáo dục bệnh nhân và phòng bệnh.

Chúng tôi chỉ xin nhấn mạnh đôi điều:

-      nên trang bị cho tất cả nhân viên bệnh viện lao khẩu trang đặc biệt cho bệnh lao khi làm việc trong phòng bệnh nhân
-      nên cho bệnh nhân nhiễm lao kháng nhiều thuốc mang khẩu trang để giảm thiểu truyền bệnh cho người khác.
-      nên yêu cầu thân nhân mang khẩu trang khi vào thăm bệnh nhân và giới hạn số giờ thăm viếng, tuyệt đối cấm thân nhân ở lại trong phòng bệnh nhân.
-      nên khám những người thường tiếp xúc với bệnh nhân hay ở cùng phòng bệnh nhân trước khi nhập viện, để xem có nhiễm lao không, và điều trị nếu cần.

Tài liệu tham khảo:
5/ Natural Medicines Comprehensive database của Pharmacist’s letter

(1) Tên La-tinh của Milk Thisle có thể là Sylibum marianum hay Carduus Marainum.Công dụng của cây này làm hoạt gan, nhuận mật, và làm tăng hoạt động của nội tiết tố nữ estrogen.