Contact

Contact Us: chu.duong@gmail.com

Showing posts with label CHUYÊN MÔN. Show all posts
Showing posts with label CHUYÊN MÔN. Show all posts

7/08/2011

HỒ LÔ BÁ , FENUGREEK hay METHI

Fenugreek
Hồ lô bá (Fenugreek)
              Gia vị hay Vị thuốc ?
                                                          DS Trần Việt Hưng
 
Tên Hồ lô ba ( do nguồn gốc từ Trung dược) và Fenugreek có phần xa lạ với đa số người Việt trong và ngoài nước, nhưng thật ra rất quen thuộc với những bà nội trợ hay dùng đến bột 'cà ri'. Tại nhiều nơi trên thế giới, Fenugreek không những được trồng để lấy hạt làm gia vị, nhưng còn được dùng làm rau và làm thuốc trị bệnh. Cây cũng được trồng thử tại một số địa phương tại Việt Nam
.
   
Fenugreek được xem là một trong những cây đầu tiên được nhân loại trồng..cây đã được trồng tại vùng thung lũng sông Nile tứ 1000 năm truớc Tây lịch. Các văn bản tìm được trong các ngôi cổ mộ Ai cập đã mô tả cách nấu nướng fenugreek khi dùng làm thực phẩm và cách chế biến cây để làm thuốc (trị nóng sốt). Hạt fenugreek khô đã được tìm thấy trong mộ của Tutankhamen. Hạt cháy khô tìm được tại Tell Halal (Iraq) được định bằng Carbon phóng xạ cho thấy niên đại khoảng 4000 năm (trước Tây lịch) Người Hy lạp và La mã (theo Cato) đã trồng cây để nuôi gia súc, và để làm thuốc. Hippocrates đã dùng fenugreek để trị nóng sốt. Người Ai cập dùng cây làm một trong các hợp chất để xông hương và để ướp xác.
Fenugreek, được ghi trong lịch sử Do thái, như là một..võ khí chống ngoại xâm ! Năm 66-70 Tây lịch, Tường La Mã (sau thành Hoàng đế) Vespasian bao vây thành Jerusalem và ra lệnh cho quân sĩ san bằng bức tường thành. Phương thức phòng thủ của dân Jerusalem là đổ nước sôi hay dầu sôi vào quân xâm lấn dùng thang trèo lên mặt thành và theo Sử gia Flavius Josephus thì người Do thái đã thêm dầu fenugreek vào nước sôi để gây tăng thêm sự..trơn trợt cho quân La mã.. 
   Fenugreek có nguồn gốc tại những vùng quanh Địa Trung hải và Tãy Á. Cây được các tu sĩ dòng Benedictins đưa về Trung Âu từ thế kỷ thứ 9 và Charlemagne (812) đã cổ võ việc sử dụng cây này. Cây cũng được du nhập vào Trung Hoa từ thời nhà Tống (1057 tây lịch).
Phụ nữ Ả rập, từ Libya đến Syria ăn hạt fenugreek rang để tăng cân và giúp tạo thân hình thẩm mỹ theo trường phái Ruben (cho đến thế kỷ 19, thân hình phụ nữ được xem là đẹp cần phải phát triển, nẩy nở và đều đặn nhất là các phần hông..). Các vị 'chủ nhân' của các harem ăn hạt để làm thuôc kích thích tình dục (aphrodisiac) , hiện nay tại nhiều nơi trong thế giới Ả rập vẫn xem hạt fenugreek như một vị thuốc kích dục (?). Các bà mẹ nuôi con tại Ethopia ăn thêm fenugreek để giúp có nhiều sữa..
 
 
Tên khoa học và các tên gọi khác :
Trigonella foenum-graecum thuộc họ thực vật fabaceae.
Tên Anh-Mỹ khác Greek hay, Bird's Foot
Pháp : Fenugrec ;  Đức :Bockshornklee ; Tây Ban nha : Alholva ; Ý : Fieno Greco; Nhật : Koroha
Tên Ấn độ : Methi, Methi saag ; Phạn : Methika
Tên Trigonella,do tiếng Hy lạp có nghĩa là có 3 cạnh, do hình dạng của hoa. Tên Anh ngữ Fenugreek, do 'foenum-graecum' , tiếng latinh có nghĩa là rơm Hy lạp : cây đã được dùng để trộn thêm các rơm rạ có phẩm chất kém để tạo mùi thơm. Trước đây tại Hy lạp, fenugreek được trộn vào các rơm rạ bị mốc hay bị hư hỏng do côn trùng phá hoại, giúp rơm trở thành..dễ ăn hơn, và hơn nữa trong thiên nhiên trâu bò và ngựa khi đau ốm chỉ chịu ăn fenugreek.

Đặc tính thực vật : 
Cây thuộc loại thảo hằng niên, có thân tròn không lông, mọc thẳng đứng, có thể cao 60-80 cm, rễ phát triển. Lá mọc so le, có mang 3 lá chét (lá phụ) xoan ngược, dài 1.5-2 cm, rộng 0.5-1 cm. mép lá có răng cưa ở phân nửa phần trên, phiến có 4 đôi gân phụ. Lá có cuống ngắn 4-6 mm. Hoa màu vàng nhạt hay trắng, mọc ở nách lá, đơn độc hay từng đôi. Tràng hoa dài gấp đôi đài hoa. Quả hình trụ thẳng, hơi cong, dài 10-12 cm, rộng 4-5 mm, có mỏ nhọn ở đầu, chứa 10 đến 20 hạt. Hạt màu nâu sáng, hay vàng-nâu, hình thoi, dẹp, rất cứng (3x4 mm), nhiều cạnh, có mùi thơm. Cây trổ hoa vào các tháng 4-6 và ra quả trong các tháng 7-8..
Fenugreek thuộc loại có chu kỳ sống ngắn, có thể thu hoạch sau 3-4 tháng gieo trồng và mỗi năm có thể trồng xoay vòng đến 3 lứa.
Các nước xuất cảng feugreek hiện nay là : Ấn độ, Pháp, Lebanon, Ai cập và Argentina.
 
*    Thành phần hóa học :
Thành phần hóa học của hạt fenugreek :
Chất nhày (2.5-45 % gồm các  mannogalactans)
Chất đạm (25-30%) trong đó có các amino acids như choline-4-hydro xyisoleucine, lysine, tryptophan, histidine, arginine, cystine và tyrosine..
Các chấc ức chế proteinase
Các saponins loại steroid (1.2-1.5%) gồm cả các trigofoenosides từ A đến G, alycones gồm diosgenin,yamogenin , gitogenin, smilagenin, tigogenin, yuccagenin..
Ester loại steroid saponin-peptid như foenugraecin
Các sterols : chất chính là 24xi-ethyl-cholest- 5-en-3beta- ole (65%)
Flavonoids gồm isoorientin, isovitexin, orientin arabinoside, isoorien tin arabinoside, saponaretin, vicenin-1, vicenin-2, vitexin
Trigonelline (coffearin, N-methylbetaine của nicotinic acid, 0.4%)
Tinh dầu dễ bay hơi (0.01%) : hợp chất tạo mùi 3-hydroxy-4, 5-dime thyl-2 (5H)-furanone.
Dược tính  của fenugreek :
Fenugreek và Tiểu đường :
   Hạt fenugreek là một trong số ít dược thảo được WHO và nhiều quốc gia công nhận là có hoạt tính giúp hạ đường trong máu. Rất nhiều nghiên cứu khoa học đã giúp chứng minh khả năng hạ đường của hạt fenugreek, khi thử trên thú vật và cả khi thử nghiệm lâm sàng nơi người (Phytotherapy Research Số 12-1998).  
Hạt fenugreek, sử dụng đơn độc, hay dùng phối hợp với vanadate, tạo ra một sự bình thường hóa các men glucose-6-phosphata se và fructose-1,6- biphosphatase trong gan và thận của chuột bị tiểu đường. Hoạt tính hạ đường tăng cao hơn khi dùng dưới dạng phối hợp.Hạt fenugreek cũng có hoạt tính giúp bình thường hóa hoạt động của men glyoxalase I nơi gan của chuột bị tiểu đường (Indian Journal of Expe rimental Biology Số 37-1999) Khi cho chuột bình thường và chuột bị gây tiểu đường bằng alloxan dùng fenugreek ở những liều 2 và 8 g/kg hiệu ứng hạ glucose trong máu xẩy ra rất rõ rệt, hiệu ứng này tùy thuộc vào liều sử dụng (Journal of Ethnopharmacology Số 75-2001)
Khi thử trên thỏ, hạt và các dịch chiết khác nhau đều có những hoạt tính hạ đường (thừ bằng test độ dung nạp glucose). Phần chứa nhiều alkaloid là phần có hoạt tính mạnh nhất (Indian Journal of Pharmaceutical Science Số May-June 1987)
Các nghiên cứu thực hiện trên những người tự nguyện đều ghi nhận tác dụng hạ đường của fenugreek, nhất là nơi những bệnh nhân bị tiểu đường, không tùy thuộc vào insulin (NIDDM) : trong một thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát, hoạt tính của 3 chế phẩm từ hạt (hạt tươi, hạt đun sôi và hạt nẩy mầm) được dùng cho 6 người bình thường và 6 bệnh nhân (các bệnh nhân dùng hạt tươi và hạt nẩy mầm), kết quả cho thấy hạt tươi và hạt nẩy mầm làm hạ glucose nơi tất cả 12 người, và hạt đun sôi không có tác dụng (Journal of Food Science and Techno logy Số 33-1996). Một thử nghiệm khác trên 21 bệnh nhân NIDDM ghi nhận liều 15 gram hạt cho dùng một lần trong bữa ăn gây hạ glucose trong máu, và không gây những thay đổi về nồng độ insulin (Nutrition Research  Số 16-1996).. Ngoài ra, cũng trong một thử nghiệm trên 15 bệnh nhân NIDDM, cho dùng hạt fenugreek đã loại chất béo trong 10 ngày, gây hạ glucose trong máu (nhịn ăn đêm trước) và giảm lượng glucose đào thải qua nước tiểu đến 64%. Thữ nghiệm này cho rằng cơ chế tạo ra hạ đường trong máu của fenugreek có thể do hiệu ứng của chất sơ dinh dưỡng (Soluble dietary fiber) trên sự hâp thu glucose nơi ruột và do sự cải thiện hoạt tính ngoại vi của insulin (Nutrition Research Số 10-1990 ; British Journal of Nutri tion Số 97-2007).
Hạt fenugreek cũng làm giảm được một số triệu chứng của tiểu đường như khát nước, đi tiểu nhiều lần, yếu mệt và sụt cân.
Tại các bệnh viện ở Trung Hoa, Saponins tổng cộng trích từ hạt fenugreek đã được dùng phối hợp với sulfonylureas để trị tiểu đường cho thấy sự phối hợp đem lại những kết quả rất tốt, giúp bệnh nhân giảm được sulfonylurea và kiểm soát được mức đường hữu hiệu hơn (Chinese Journal of Integrative Medicine Số 14-2008)
Fenugreek và Cholesterol :
   Một số nghiên cứu thực nghiệm nơi chuột đã chứng minh được hoạt tính làm hạ Cholesterol của fenugreek (Current Science Số 51-1982).
Hạt fenugreek  giúp ngừa gia tăng cholesterol nơi chuột cho ăn các thực phẩm hay một chế độ ăn uống chứa nhiều cholesterol (British Journal of Nutrition Số 69-1993).
Một acid amin đặc biệt, trích từ fenugreek : 4-hydroxyisoleucine 5 có khả năng gây hạ triglycerides trong máu đến 33%, cholesterol tỗng cộng đến 22% và acid béo tự do 14%, cùng với sự tăng tỷ lệ HDL-C/TC đến 39% khi thử trên chuột bọ bị gây cao mỡ trong máu (Bio organic & Medicinal Chemistry Letters Số 15-2006)
Saponin loại steroid, trích từ hạt fenugreek, thử nơi chuột, với liều mỗi ngày 12.5g/ 300g trọng lượng cơ thể làm hạ rõ rệt cholesterol trong huyết tương ở cả chuột bình thường lẫn chuột bị tiểu đường (Steroids Số 60-1995).
Hoạt tính chống sưng cũa Fenugreek :
   Hạt fenugreek đã được nghiên cứu vế tác dụng chống sưng, thử nghiệm trên chuột lang (albino) bị gây viêm bằng các chất gây sưng khác nhau.. Hoạt tính chống sưng được so sánh với sodium salicylate. Dịch chiết từ hạt bằng ether có hoạt tính mạnh nhất (Indian Drugs Số February 1982) Một thử nghiệm khác cũng trên chuột, bị gây đau bằng acid acetic, bằng nhiệt (bị đặt trên đĩa nung nóng), dịch chiết từ hạt fenugreek được so sánh  với pentazocine và diclofenac, kết quả ghi nhận phần tan trong nước của dịch chiết có hoạt tính chống sưng và làm giảm đau khá mạnh.(Asian Pacific Journal of Clinical Nutrition Số 16-2007)
Khả năng kháng sinh :
   Fenugreek đã được thử nghiệm về hoạt tính kháng sinh trên 26 loại vi trùng gây bệnh và cho thấy khả năng kháng sinh khá rộng (Natural Products Science Số 7-2001) : Dầu béo và Phần không bị savon-hóa, trích từ hạt đều có hoạt tính kháng sinh khá mạnh.
Hoạt tính diệt ký sinh trùng Sốt rét :
Dịch chiết bằng các dung môi khác nhau từ lá fenugreek đã được thử nghiệm 'in vitro' trên các chủng ký sinh trùng gây sốt rét Plasmodium falciparum (gồm các chủng còn mẫn cảm và các chủng đã kháng chloro quin). Kết quả cho thấy, dịch chiết bằng ethanol 50% có hoạt tính diệt ký sinh trùng mạnh nhất ở liều IC50=8.75 +/- 0.35 microg ml(-1) đối với plasmodium còn phản ứng với chloroquin và ở liều IC50= 10.25 +/- 0.35 microg ml(-1) đối với plasmodium đã kháng chloroquin. Các dịch chiết bằng butanol, chloroform và ethyl acetate tuy cũng có tác dụng nhưng yếu hơn nhiều (Evidence Based Complementary and Alternative Medi cines Số 2 tháng 5, 2008). Hạt fenugreek có khả năng diệt được ấu trùng (lăng quăng) của muổi đòn sóc Anopheles pharoensis : Nồng độ cao hơn 0.5% có thể diệt toàn bộ số lượng lăng quăng (Egyptian Society of Parasitology Số 36-2006)  
Khả năng chống oxy-hóa :
     Nhiều nghiên cứu trong công nghiệp thực phẩm đã cho thấy hạt fenugreek có thể hữu hiệu khi dùng làm chất chống oxy-hóa để bảo quản thực phẩm. Trong một thử nghiệm, tiềm năng chống oxy-hóa của fenugreek có thể so sánh được với các chất kháng oxy tổng hợp như butylated hydroxyanisole và butylated hydroxytoluene (Meat Science Số 57-2001); khả năng kháng-oxy của hạt fenugreek hoạt động rất tốt khi dùng bảo quản thịt heo xay (cà thịt tươi lẫn thịt đông lạnh).
Khả năng bảo vệ gan chống tác hại của rượu :
Các polyphenols trích từ hạt fenugreek được nghiên cứu về khả năng bảo vệ gan (nơi chuột) chống lại tác hại của rượu : Ruột bị gây hư gan bằng cho uống thenol 6g/kg mỗi ngày liên tục trong 60 ngày  : các triệu chứng hư gan bao gồm các thông số về hoạt động của các men gan, giảm hạ các nhóm sulfohydryl, gia tăng các nhóm carbonyl proteins..Kết quả ghi nhận là fenugreek có hoạt tính tương tự như silymarin (dùng làm đối chứng), giúp cải thiện được các thay đổi bệnh lý ở gan gây ra do rượu (Cell Biology and Toxicology Số 24-2008)
Khả năng ngừa và trị sạn thận :
Hạt fenugreek được sử dụng tại Maroc để ngừa và trị sạn thận. Nghiên cứu tại ĐH Cadi-Aỳyad, Marrakech (Maroc) ghi nhận hiện tượng calci hóa trong thận và lưọng calcium tổng cộng nơi các tế bào thận của chuột được cho uống dịch chiết từ hạt fenugreek thấp hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng. Fenugreek cho thấy tương đối hiệu nghiệm trong tác dụng ngăn ngừa sự tạo sạn calcium oxalate.(Phytothera py Research Số 21-2007)
Fenugreek vả Ung thư :
Trong một thử nghiệm thực hiện tại Đại học UAE (United Arab Emirates) hạt fenugreek cho thấy có hoạt tính bảo vệ được chuột chống lại ung thư vú, gây ra bởi 7,12-dimethylbenz (alpha) anthracene (DMBA). Liều 200 mg/ kg trọng lượng cơ thể ức chế rõ rệt hiện tượng phì vú do DMBA tạo ra, hoạt tính này được giải thích là do gây ra hiệu ứng tế bào được mã hóa để tự diệt ( apoptosis) (Cell Biology International Số 29-2005). Dịch chiết từ hạt fenugreek bằng alcohol, khi thử nghiệm trên chuột bị gây ung thư loại Ehrlich ascites carcinoma (EAC) cho thấy khi chích qua màng phúc toan (trước và sau khi chuột bị cấy tế bào ung thư), fenugreek có thể ức chế sự tăng trưỡng của tế bào ung thư đến 70% (Phytotherapy Research Số 15-2001) 
 
Độc tính và liều lượng khi sử dụng làm thuốc :
Fenugreek đã được sử dụng từ lâu đời để lảm thực phẩm và không gây ra nhựng phản ứng độc hại nào. Các nghiên cứu về độc tính cho thấy , cho chuột thử nghiệm ăn liên tục trong 90 ngày những liều lượng cao từ 2 đến 4 lần các liều dùng trị bệnh, đều không gây tác hại nào trên gan và máu (Phytotherapy Research Số 10-1996). Ngoài ra, khi cho các bệnh nhân tiểu đường dùng hạt theo liều 25 gram/ ngày, trong 24 tuần liên tục, không thấy có sự biến đổi trong các thông số về hoạt động của gan, thận và máu (Nutrition Research Số 16-1996).Tuy nhiên, bệnh nhân tiểu đường, khi dùng thêm fenugreek, cũng cần thông báo cho bác sĩ điều trị để tránh tình trạng mức đưởng hạ quá thấp khi dùng chung với các thuốc trị tiểu đường khác.
Liều thông thường : Hạt tán thành bột là 6 gram/ ngày
Theo Commission E (Đức), hạt fenugreek được chấp nhận làm thuốc giúp ăn ngon miệng dưới dạng trà dược (ngâm 0.5 gram trong 240 ml nước lạnh trong 3 giờ, lược và hâm nóng lại, có thể thêm mật ong khi uống) và dùng bên ngoài trị sưng da dưới dạng bột nhão để đắp.
 
Fenugreek trong Y dược dân gian :
Y dược cổ truyền Trung Hoa : dùng hạt làm dược liệu, gọi là Hồ lô bá. Hạt được xem là có vị đắng, tính ấm có các tác dụng 'ôn thận', tán hàn và chỉ thống. Dùng trị các trường hợp trị tạng thận suy yếu, đau bao tử, đau ruột, sưng chân, thấp gây ra đau khớp khó đi lại.
Tại Hoa Kỳ : Những người di dân đầu tiên đến miền Đất mới, đã dùng fenugreek làm một phương thuốc giúp điều hòa kinh nguyệt. Một hỗn hợp dược thảo có chứa fenugreek rất nổi tiếng trong thế kỷ 19 tại Mỹ là Lydia E Pinkham's Vegetable Compound, được quảng bá như một dược phẩm trị 'female weakness' (khó chịu khi có kinh). Nhà sản xuất đã 'dám' quảng cáo 'đây là một khám phá lớn nhất về y học từ khi ..có lịch sử', gây ra những phản ứng đưa đến việc Chính phủ đặt ra Cơ quan FDA để kiểm soát các 'quảng cáo về trị bệnh'. Hiện nay trên thị trường các chất hổ trợ dinh dưỡng vẫn còn bán Pinkham's Compound nhưng hợp chất..không còn chứa fenugreek.
Tại Ấn độ : Cây non và lá có mùi thơm được dùng làm rau ăn, hạt dùng làm gia vị chế biến cà ri. Cây và lá tán thành bột, trộn nước lảm thành khối nhão để đắp trị phỏng và đắp trên da đầu để giúp chống bạc tóc. Lá được dùng uống trị ăn không tiêu và bệnh về mật, nước sắc toàn cây dùng trị bệnh huyết trắng. Hạt được dùng cho các sản phụ để tăng sữa. Hạt, sau khi rang chín, tán thành bột, được dùng để trị kiết lỵ, và tại vùng Hymalaya, cho trẻ em dùng để trị sán lãi.
 
Fenugreek dùng làm Rau và Gia vị :
Đọt non của cây được băm vụn, trộn chung vào các món salad. Lá được dùng làm rau. Hạt màu vàng có vị hơi đắng, gần như cần tây và phong (maple). Trong ẩm thực, phương pháp sử dụng hạt tốt nhất là rang khô trước khi dùng để làm mất vị đắng (tuy nhiêng nếu rang quá độ, hạt sẽ mất ngon). Hạt cũng có thể để nẩy mầm như giá đậu, mustard và ăn như salad. Hạt nghiền thành bột là một thành phần quan trọng trong bột càri Ấn độ, trong món halva của người Do thái. Hạt khá cứng, nên không thể tán thành bột bằng cách dùng chày và cối, mà phải dùng đến một máy xay chuyên biệt. Dầu fenugreek có vị của maple, có thể dùng thay maple khi nấu nướng.
Đặc tính dinh dưỡng của hạt fenugreek :
100 gram hạt chứa :
- Calories                                   323
- Chất đạm                                23.00 g
- Chất sơ                                   10.07 g
- Chất béo                                 6.41 g
- Calcium                                 176 mg
- Sắt                                          33.53 mg
- Magnesium                            191 mg
- Phosphorus                             296 mg
- Potassium                               770 mg
- Sodium                                   67 mg
- Kẽm                                        2.5 mg
- Đồng                                       1.11 mg
- Manganese                              1.228 mg
- Thiamine                                 0.322 mg
- Riboflavine                             0.366 mg
- Niacin                                     1.640 mg
- Folic acid                                57 mcg
- Vitamin C                               3.00 mg
 
   Fenugreek được dùng trong nhiều món ăn tại nhiều quốc gia khác nhau.
Tại Ấn độ, hạt fenugreek ngoài vai trò trong càri, còn là một trong 3 chất của idli hay dosa (Tamil); là một trong thành phần nguyên liệu để làm loại bánh mì khakhra. Tại Ethiopia và Erythrea, hạt dùng trong bánh mì injera/taita, loại bánh truyền thống của vùng Sừng Phi châu. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, hạt (gọi là ceman) dùng trong bột cay để làm món pastirma. Tại Ai cập, hạt được đun sôi, thêm đường, để món nước uống rất được ưa thích trong những tháng mùa Đông. Tại những nơi khác trong vùng Trung Đông, fenugreek có mặt trong nhiều món kẹo, bánh, chè ngọt. Món bánh ngọt tráng miệng Helba (bánh phủ đường hay si rô maple, rắc thêm hạt fenugreek trên mặt) rất được ưa thích trong các dịp lễ lạc Hồi giáo. Người Do Thái có phong tục ăn fenugreek trong bữa ăn của đêm thứ nhất hay thứ nhì của lễ Rosh Hashana (Năm Mới).
 
Tài liệu sử dụng :
Whole Foods Companion (Dianne Onstad)
PDR for Herbal Medicines
Major Herbs of Ayurveda (Elizabeth Williamson)
Cây có Vị thuốc ở Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ)
The Book of Spices (Frederic Rosengarten Jr)

Fenugreek (Methi)

Trust the good old green leafies to come to the rescue. For millions of diabetics, hope comes in the form of fenugreek (methi) seeds. Scientists at the Pune-based National Centre for Cell Science (NCCS) have prepared a novel formulation from extracts of fenugreek seeds that helps bring down the blood glucose level in the body and hence proves to be a boon for diabetic patients.
Scientists realized that to manage a chronic disease such as diabetes, it was pertinent to test the sustained lowering of blood glucose levels for a long period of time. Their research demonstrated the anti-diabetic potential of the formulation that remained effective for a longer period of time.
The encouraging results have now led a herbal medicine company, Indus Biotech, to venture into the field and take the same extract for a factory-level preparation. Dr Manoj Bhat, scientist at NCCS whose research on the “hypoglycemic effect of a novel dialysed fenugreek seeds extract is sustainable and is mediated, in part, by the activation of hepatic enzymes” is published in ‘Phytotherapy Research’ journal and the British Journal of Pharmacology. It says there is a great scope for plant-derived pharmaceuticals, which can work as an alternative to the current management of hypeglycemia. Diabetes mellitus is an alarming medical problem affecting more than 194 million people. Persisting diabetic conditions often lead to damage of blood vessels, increased risk of coronary artery disease, stroke, blindness, nerve damage, and in extreme situations, may even lead to amputations

TÌM HIỂU VỀ FUCOIDAN




TÌM HIỂU VỀ FUCOIDAN

Ds Lê-văn-Nhân

Sách “ Sức mạnh kỳ diệu của FUCOIDAN” dịch từ bản gốc tiếng Nhật của bác sĩ Daisuke Tachikawa, hình bìa trình bày rất đẹp và giá 20 USD. Có lẽ Nhật là quốc gia nghiên cứu nhiều nhất về sản phâm thiên nhiên chống ung thư như nấm và rong tảo, nên Fucoidan cũng gốc ở Nhật.Hiện nay công ty phát hành bán quảng cáo giá $10/ quyển nếu gọi số 1-888-998-8613.

Theo bệnh viện ung thư nổi tiếng ở miền Đông Hoa-kỳ, Memorial Sloan Kettering Cancer Center,( www. mskcc.org/mskcc/html/69227.cfm) , thì trên mặt hóa học, Fucoidan là lọai chuổi polysaccharide và dồi dào sulfat fucose tìm thấy trên vách tế bào của nhiều lòai tảo nâu nhất là ở vùng biển phía bắc nước Nhật. Đúng ra đây là những chất nhờn bao bọc lá rong. Nghiên cứu in vitro, cho thấy Fucoidan có tính chống u bướu, chống sinh mạch máu mới, kháng siêu vi, điều hòa tác dụng của hệ miển nhiễm. Những tác dụng này do kích thích tế bào sát thủ tự nhiên (natural killer cells) và giảm tăng sinh tế bào với sự tham dự của AP-I. Fucoidan cũng cho thấy có tác dụng bảo vệ thần kinh, bảo vệ bức xạ, và chống lóet nhưng thiếu dữ liệu ở người.

Trong những nghiên cứu khác, fucoidan chứng tỏ họat động chống đông máu, chống huyết khối và có tác dụng cọng thêm khi dùng chung với thuốc chống đông máu.

Mục đích sử dụng:
  • dị ứng
  • nhiễm khuẩn
  • cao huyết áp
  • kích thích hệ miển nhiễm
  • Viêm
  • nhiễm siêu vi

Thành phần:
  • alpha (1,2) hay alpha (1,3)4-O- sulfated-L-Fucose
  • galactose
  • Xylose
  • Glucuronic Acid

Cơ chế tác dụng:
Fucoidan ức chế di căn bằng cách ngăn tế bào u bướu gắn kết với mạng lưới ngòai tế bào. Điều này thực hiện bằng cách ngăn chặn vùng kết nối tế bào với fibronectin, cần thiết cho hổn hợp kết dính. Fucoidan cũng cho thấy cảm ứng “apoptosis” tạm dịch là chương trình tự hủy diệt củatế bào T lòai người kiểu siêu vi (HTLV-1) gây ra ung thư tế bào T người lớn, bằng cách làm mất họat động của NF-kB điều hòa protein chống apoptosis (PubMed có 1 bài tóm tắt trên báo Nutr Cancer 2005;52 (2):189-201 của nhóm Haneji K. và cộng sự, bộ môn siêu vi và ung thư phân tử, đại học y khoa Ryukyus ở Okinawa Nhật-bản). Fucoidan đàn áp AP-I, yếu tố sao chép tham dự vào tăng sinh tế bào và biến dạng tế bào. Nghiên cứu in vitro cho thấy Fucoidan có thể lọai bỏ sinh mạch máu mới do tế bào sarcoma 180 ở chuột nhắt. Fucoidan điều hòa tác dụng miển nhiễm và tăng cường họat động của tế bào sát thủ tự nhiên (NK), đóng vai trò chính trong trung gian tế bào tự hủy. Tác dụng bảo vệ thần kinh của Fucoidan do khả năng dẹp bỏ TNF-a và sản xuất nitric oxide do interdferon-gamma ở tế bào thần kinh não C6 và tính chống oxyt hóa.

Chống chỉ định:
Vì tính chất chống đông máu, fucoidan có thể cọng thêm tác dụng với thuốc chống đông máu đang dùng như warfarin và heparin.

Tác dụng nghịch:
Không có báo cáo tác dụng nghịch do dùng Fucoidan.

Góp ý:
Tác dụng hạ đường và giảm cholesterol có thể do làm chậm hấp thụ những chất này, như khi chúng ta dùng những chất xơ hòa tan khác.

Những tác dụng chống ung thư và tăng họat động hệ miển nhiễm, mặc dầu được chứng minh trong phòng thí nghiệm, nhưng chưa có chứng minh lâm sàng, nên Fucoidan có thể giúp ích cho một số người bệnh ung thư hoặc không có tác dụng. Vì thuốc không có tác dụng nghịch, nên nếu người bệnh muốn thử có thể được trừ khi đang dùng chất chống đông máu, nhưng nên cho gia đình bệnh nhân biết là kết quả không chắc chắn, đừng hy vọng quá nhiều.







7/02/2011

CÔNG DỤNG CỦA GINKGO BILOBA (BẠCH QUẢ)

Công dụng của Ginkgo Biloba (Bạch Quả)


 
                                                         DS Trịnh Nguyễn Đàm Giang

Nhập đề


Ginkgo biloba được dùng để điều trị giai đoạn sớm của bệnh Alzheimer, sa sút trí tuệ (lú lẫn), khấp khểnh ngoại biên do mạch, ù tai do mạch gây nên. Nhiều nghiên cứu thử nghiệm tìm hiểu sự hiệu nghiệm của ginkgo để điều trị bệnh mạch não, và sa sút trí tuệ và duyệt xét các nghiên cứu có tổ chức đã cho biết sản phẩm làm từ ginkgo có thể làm khả quan hơn những triệu chứng của lú lẫn.
Ginkgo thường được dung nạp tốt, nhưng có thể tăng nguy cơ chảy máu nếu dùng chung với warfarin, thuốc chống tiểu cầu, và khi dùng chung với một số dược thảo khác. Bài viết sau đây nói về sự an toàn lâm sàng, liều, thời gian dùng, dược học của Ginkgo (Am Fam Physician 2003;68:923-6).

Ginkgo biloba
Chiết xuất từ lá Ginkgo biloba được dùng rộng rãi nhất ở Âu châu để trị giai đoạn đầu của bênh Alzheimer, sa sút tri thức do mạch, khấp khểnh ngoại biên do mạch, ù tai xuất xứ do mạch. Ginkgo cũng là 1 trong mười dược thảo bán chạy nhất trên nước Mỹ. Có hơn 120 nghiên cứu lâm sàng về Ginkgo, hầu hết từ Âu châụ
Điều chế chuẩn cho chiết xuất ginkgo là EGb 761. Tại Mỹ, ginkgo được sắp vào loại phụ trợ tiết thực, loại dùng tương đương với EGb 761 được nghiên cứu ở đây là Ginkgold, Ginkoba, và Ginkai.
Điều chế chuẩn chứa 24 % ginkgo flavonoid glycosides, 6 % terpene lactones, và không nhiều hơn 5 phần trong 1 triệu ginkgolic acids.(1,2)

Cơ chế tác dụng của ginkgo

Hai hoạt chất Ginkgolide B (một diterpene) và sesquiterpene bilobalide trong chiết suất ginkgo biloba làm tăng tuần hoàn trong não cùng làm tăng chịu đựng của mô khi thiếu oxygen, được coi như là một chất bảo vệ thần kinh, chống oxy hóa, ăn gốc tự do (a free-radical scavenger), ổn định màng, và ngăn cản yếu tố kích hoạt tiểu cầu (platelet-activating factor) (3,4). Những tác dụng dược học khác gồm làm thư giãn nội mô (endothelium) qua sự ngăn chặn 3',5'-cyclic GMP (guanosine monophosphate) phosphodiesterase, ngăn chặn bớt mất độ nhày của thụ thể choline gây nhày (muscarinergic cholinoceptors), thụ thể gây tiết adrenaline, và kích thích tái hấp choline ở chân hải mã (hippocampus) (5,6). Chiết xuất ginkgo đã được biết có thể ngăn cản sự đóng tụ mảng beta amyloid.(7)

Công dụng và Hiệu nghiệm của gingko trong bệnh mạch não, lú lẫn, bồi bổ trí nhớ
Một thu thập đọc lại một cách quy mô tám nghiên cứu ngẫu nhiên (8) , mù đôi, có kiểm soát với thuốc vờ đã kết luận rằng ginkgo có hiệu nghiệm nhẹ làm giảm triệu chứng sa sút tri thức, và thiếu hụt của não ngang với trị liệu bắng thuốc ergoloid mesylates (Hydergine).
Một phân tích tổng hợp đa thống kê (meta-analysis/siêu phân tích) nhìn đến 50 nghiên cứu (9) cho biết có bốn nghiên cứu hội đủ tiêu chuẩn cho một thử nghiệm lâm sàng. Trong một nghiên cứu với 212 người trong hai nhóm thuốc vờ và gingko, kết quả nói chung là có hiệu nghiệm có thể so sánh với lợi ích của donezepil (Aricept) (10). Hiệu nghiệm ở đây được đo bằng cách dùng cân nhận thức đo lường mức bệnh Alzheimer, cùng những cách đo nhận thức theo tiêu chuẩn khác.

Ở những nghiên cứu mà dược thảo được dùng ít nhất là 6 tháng cho thấy chiết xuất của ginkgo và thuốc áp chế cholinesterase thế hệ thứ hai có hiệu nghiệm như nhau khi dùng điều trị sa sút tri thức ở bệnh nhân bị AD nhẹ hay trung bình (11). Một thu thập đọc lại khác với chín nghiên cứu về ginkgo cho biết chất này an toàn và có hiệu nghiệm hơn thuốc vờ nhưng nghiên cứu gia vẫn ngại ngùng trong vấn đề khuyến khích vì còn chờ thêm nghiên cứu khác tốt hơn (12).

Một nghiên cứu từ Hoà Lan (13) với 214 bệnh nhân trong vòng 24 tuần dùng liều trung bình (160 mg/ ngày), liều cao (240 mg/ngày), hay thuốc vờ không cho thấy có sự tiến triển cho giảm trí nhớ liên quan đến tuổi già, hay sa sút trí tuệ nhẹ trong những đo lường đánh giá tập tính và điều kiện thần kinh tâm thần. Tuy nhiên nghiên cứu này có khuyết điểm vì đã kể cả người mất trí nhớ vì tuổi già mà không phải chỉ dùng những người bị sa sút trí tri thức, điều này làm giới hạn kết luận của nghiên cứu này về vai trò của ginkgo (14).

Một nghiên cứu ngẫu, vờ có kiểm soát về hiệu nghiệm của ginkgo ở những người khỏe mạnh, không bị sa sút tri thức, hay những suy kém tinh thần khác cho thấy với liều thấp (120mg/ngày) không có ích lợi chi (15). Một nghiên cứu khác với liều cao hơn (180 mg/ngày) thì lợi ích về tăng nhận thức có hiệu quả đáng kể (16).

Khấp khểnh cách hồi (Intermittent claudication)
Ginkgo còn được dùng để làm tăng sự lưu thông máu trong mạch ngoại biên giúp cho vận chuyển ở bệnh nhân bị bệnh khấp khểnh cách hồi đi lại dễ dàng hơn. Một meta-analysis gồm 8 nghiên cứu cho biết ginkgo có chút hiệu nghiệm giúp đi lại không đau (17). Một thử nghiệm so sánh liều 120 mg với 240 mg cho thấy liều cao có kết quả tốt hơn liều thấp (18).

Ù tai
Ginkgo còn được dùng trong chỉ định chống ù tai. Một nghiên cứu chỉ dùng phương pháp hỏi đáp và phỏng vấn 1121 người qua điện thoại không thấy có sự hiệu nghiệm của ginkgo để làm giảm ù tai (19). Một thử nghiệm khác ngẫu nhiên, có kiểm soát với 103 bệnh nhân cho thấy 50% số bệnh nhân vừa mới bị ù tai thấy giảm nhiều hay triệu chứng biến mất trong vòng 70 ngày so với 119 ngày với người nhận thuốc vờ (20). Nghiên cứu xét lại năm thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát kết luận ginkgo biloba có hiệu nghiệm đôi chút để điều trị chứng ù tai (21).

Những công dụng khác
Ginkgo còn được tường trình là có hiệu nghiệm cho bệnh rối loạn tình dục vì dùng thuốc SSRIs (22), trị khó chịu khi leo núi cao, giảm phản ứng dễ bị lạnh (23), giúp khá hơn bệnh thoái hoá điểm vàng trong mắt (24), suyễn, và thiếu giảm oxy trong máu, trong mô (25).

Phản ứng phụ, Tương tác thuốc
Sư tương tác được biết đến và đáng kể nhất là giữa Ginkgo và thuốc chống đông máu warfarin, vì hoạt tính của ginkgo gồm cả ngăn chặn yếu tố kích hoạt tiểu cầu. Bởi vậy nếu dùng ginkgo với warfarin, hay những chất chống tiểu cầu, làm loãng máu khác như aspirin, dipyridamol, ticlopidine, heparin thì cần phải theo dõi kỹ lưỡng. Một nghiên cứu đề nghị bệnh nhân nên ngưng uống ginkgo từ 36 giờ đến 14 ngày trước khi dự trù giải phẫu (26).

Liều cao Ginkgo có thể làm giảm hiệu nghiệm của thuốc trị động kinh như valproic acid hay carbamazepine.
Ginkgo có thể cũng có lợi ích khi dùng chung với cyclosporine vì đặc tính bảo vệ màng mô.
Ginkgo có thể có hiệu nghiệm giúp trị rối loạn tình dục khi dùng chung với papaverine khi chất này không cho hiệu quả mong muốn khi dùng một mình.
Một trường hợp bệnh nhân bị hôn mê khi dùng chung với trazodone.

Một trường hợp tường trình cho hay có thể có tương tác với thuốc lợi tiểu thiazide làm áp huyết bệnh nhân tăng, và sau đó trở lại bình thường khi ngưng cả hai thuốc.

Những dược thảo khác dùng chung với ginkgo cũng có thể gây nguy cơ chảy máu gồm: feverfew, tỏi, sâm, dong quai, clover đỏ, và những coumarin thiên nhiên khác. Những trường hợp có biến chứng trầm trọng do dùng ginkgo gồm xuất huyết dưới màng cứng (27), xuất huyết dưới nhện (28), xuất huyết trong não (29), và xuất huyết trong phòng mắt trước thủy tinh thể (hyphaema) (30), lý do không biết rõ.
Chiết xuất lá ginkgo nếu tinh khiết thì không độc, nhưng chất ginkolic acid trong lá nếu hiện diện nhiều hơn số lượng cho phép thì sẽ gây độc hạị.

Phản ứng phụ của ginkgo thường nhẹ gồm buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy, nhức đầu, chóng mặt. hồi hộp, bứt rứt, suy nhược, và ngứa ngoài da.
Mặc dù không có nghiên cứu nào để hạn chế phụ nữ có bầu hay đang cho con bú dùng ginkgo, nhưng tốt nhất là nên khuyên họ đừng dùng ginkgo vì không có tài liệu chứng minh an toàn của thuốc (1,2).

Liều lượng
Với bệnh nhân bị khó nhớ, hay lú lẫn (xa xút trí tuệ) liều từ 120 đến 240 mg/ một ngày, uống hai hay ba lần
Ù tai và bệnh mạch ngoại biên: tối đa 160 mg một ngày chia làm hai hay ba lần
Thường cần một thời gian là 6 đến 12 tuần thì mới biết ginkgo có hiệu quả hay không.

Kết luận
Với số dân đến tuổi già mỗi lúc một nhiều hơn, số người bị xa xút trí tuệ và có vấn đề với đi lại càng ngày càng nhiều, ginkgo là một dược thảo có thể mang lại lợi ích chung. Ginkgo lại khá an toàn, rẻ tiền và có thể hỗ trợ thêm vào thuốc cho bệnh nhân bị bệnh Alzheimer để giảm bớt tình trạng xa xút tri thức. Chứng cớ cũng cho biết nó làm chậm được tiến triển của bệnh và nhẹ bớt triệu chứng. 

Điều quan trọng là người bệnh phải chọn lựa kỹ lưỡng loại ginkgo muốn dùng, sản phẩm cần hội đủ tiêu chuẩn lượng an toàn của terpene lactone và ginkgolic acids.

DS Trịnh Nguyễn Đàm Giang

(Tài liệu tham khảo: sẽ cung cấp nếu có lời yêu cầu).

MỘT TRƯỜNG HỢP BỆNH LAO KHÁNG THUỐC

MỘT CA BỆNH NHIỄM LAO KHÁNG THUỐC CỰC MẠNH TẠI VIỆT NAM
(EXTENSIVELY DRUG-RESISTANT TB)

 Ds Trịnh Đàm-Giang, Ds Lê-văn-Nhân, Ds Mai-Diễm-Tuyết

Bệnh nhân là 1 nữ sinh viên 23 tuổi đại học Dược Saigon, tên LP (lao phổi), ngụ tại ký túc xá sinh viên. Em này phát hiện bị lao cách đây 1 năm có lẽ do sống thiếu thốn chật hẹp trong ký túc xá, gia đình nghèo. Em đã được chửa từ tháng 3/07 đến tháng 11/07 với những thuốc sau:
Phác đồ 1:
-      RIF (Rifampicin) 0.15 g 3 viên/ngày
-      INH (Isoniazid) 0.3 g 1 viên/ngày
-      PZA (Pyrazinamide) 0.5 g 2 viên/ngày
-      EMB (Ethambutol) 0.4 g 2 viên/ngày.
Tất cả thuốc đều uống bụng đói buổi sáng.
-      kèm theo thuốc trợ gan Sylibean 1 viên x 2 lần/ngày (Carduus Marianus Extract hay milk thistle)(1) 200 mg, Thiamine HCl 8 mg, Pyridoxine HCl 8 mg, Nicotinamide 24 mg, Vitamin B12, Calcium panththenate.

Phác đồ 2:
Từ cuối tháng 11/07 đến tháng 2/08
-      tất cả thuốc trong phác đồ 1
-      cọng thêm SM (streptomycin) IM ¾ lọ/ngày

Kháng sinh đồ lấy mẫu trong tháng 11 và kết quả cấp ngày 12 tháng 2 cho kết quả sau:


Thuốc
nồng độ
µg/ml
INH
0.2
SM
4
RIF
40
EMB
2
OFLOX
2
TB1
10
ETHIO
40
CYCLO
40
KANA
20
PAS
0.5
PZA
0.5
Kết quả
R
R
R
R
R
S
S
S
R
S
R


GHI CHÚ: khuẩn lao chỉ còn nhạy cảm với TB1, Ethionamide, Cycloserine và PAS. Chúng tôi không biết TB1 là từ viết tắt của thuốc gì, nhưng bệnh nhân này đề kháng đến 7 thuốc chống lao, nên không những là MDR-TB (multi drug resistant-TB) mà còn là XDR-TB (extensively drug resistant TB).

Chúng tôi tham khảo bác sĩ Huỳnh-Đỗ-Phi, thành viên của DDDK, nhân viên CDC ( cơ quan kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa-kỳ) hiện đang công tác tại Việt-nam, thì được giải thích:

Theo hướng dẫn điều trị lao của Việt-nam gồm:
-      2 tháng SRHZ ( Streptomycin, Rifampicin, INH, Pyrazinamide (PZA)
-      hay 2 tháng RHEZ ( trong trường hợp này Streptomycin được thay bằng Ethambutol tức là Rifampicin, Isoniazid, Ethambutol,Pyrazinamide)
-      + 6 tháng HE (INH + Ethambutol)

Bác sĩ Huỳnh-Đỗ-Phi và bác s ĩ Vĩnh (từ Florida)  đã đến khám sinh viên này tại BV lao Phạm-ngọc-Thạch (Hồng-bàng cũ) và can thiệp cho em nhập viện vì sức khỏe quá yếu.

Các dược sĩ đưa em này vào bệnh viện cho biết phòng của em có 3 người và người nào cũng là lao đề kháng thuốc.Nhưng thân nhân đến thăm không ai chịu mang khẩu trang (mask) mặc dầu những trường hợp hợp này tại Hoa-kỳ phải cách ly bệnh nhân. Có người còn muốn ngủ lại với bệnh nhân trong phòng. Đây là điều chúng tôi quan tâm vì nếu không cảnh giác phòng ngừa bệnh, thì mức độ nhiễm lao ở Việt-nam sẽ tăng cao, và chi phí điều trị càng tăng vọt.

Thế nào là lao kháng nhiều thuốc? (MDR-TB: Multidrug-resistant TB):
Lao kháng nhiều thuốc là lao đề kháng ít nhất 2 trong số những thuốc tốt nhất chống lao, INH hay isoniazid và Rifampicin. Những thuốc này được xem là thuốc tuyến đầu và dùng để chửa tất cả bệnh nhân nhiễm lao.

Thế nào là lao kháng thuốc cực mạnh (XDR-TB: Extensively Drug-resistant TB): đây là 1 dạng hiếm của lao kháng nhiều thuốc . Lao kháng thuốc cực mạnh được định nghĩa là lao đề kháng với INH, Rifampin, ngoài ra còn đề kháng với bất cứ thuốc fluoroquinolone nào và ít nhất với 1 trong 3 thuốc tiêm tuyến 2 (amikacin, kanamycin, capreomycin hay streptomycin).

Vì lao kháng thuốc cực mạnh đề kháng với thuốc tuyến đầu và tuyến 2, bệnh nhân phải điều trị với những chọn lựa ít hiệu quả hơn.

Lao kháng thuốc cực mạnh là quan ngại đặc biệt cho bệnh nhân nhiễm HIV và những bệnh làm suy yếu hệ miển nhiễm. Những người này dễ mắc bệnh lao hơn một khi bị nhiễm và có nguy cơ tử vong cao khi phát sinh bệnh lao.

Tình hình lao kháng thuốc trên thế giới:
Theo báo cáo của tổ chức y-tế thế giới công bố ngày 02.26.08, tỷ lệ nhiễm lao kháng nhiều thuốc hiện nay ở mức cao nhất chưa từng có. Mỗi năm có khoảng nửa triệu ca MDR-TB, theo ước tính của WHO, khoảng 5% trong số 9 triệu ca nhiễm lao hàng năm.

Báo cáo lao kháng thuốc trên thế giới dựa trên thăm dò lớn về lao kháng thuốc trên toàn cu.Dữ liệu từ 90 000 bệnh nhân lao ở 81 quốc gia được thu thập từ 2002 đến 2006.Cũng trong báo cáo này, lần đầu tiên XRD-TB hay lao kháng thuốc cực mạnh được đề cập, đây là một dạng gần như không chửa lành được.XDR-TB tìm thấy hơn nửa số quốc gia nêu trên.

Baku, thủ đô của Azerbaijan, có tỷ số MDR-TB cao nhất, gần ¼ (22.3%) tất cả ca lao đề kháng nhiều thuốc; Những nơi khác như Moldova (19.4%), Donetsk ở Ukraine (16%), Tomsk Oblast ở Liên bang Nga (15%) và Tashkent ở Uzbekistan (14.8%). Những tỷ số trên đều cao hơn mức cao nhất WHO ghi nhận trong báo cáo công bố lần trước năm 2004.

Các nước Đông Nam Á gồm cả Việt-nam không báo cáo, và có lẽ bộ y-tế Việt-nam cũng không có được số liệu về MDR-TB và XDR-TB vì xét nghiệm mất nhiều thì giờ và tốn kém. Nhưng chúng tôi tin rằng với mức sống thấp và quá chật chội hiện nay tại các thành phố lớn, tỷ lệ nhiễm lao kháng nhiều thuốc ở Việt-nam không phải là thấp.

Một nghiên cứu tại ý của bác sĩ Besozzi và cộng sự đăng trên “Emerging Infectious Diseases” ngày 05.01.07, cho biết trong 2888 mẫu cấy TB dương tính thu thập d9u7o75c o73đức và Ý, 126 ca (4.4%) là MDR-TB và 11 ca (0.4%) là XDR-TB. Tác giả kết luận lao kháng thuốc  hay kháng thuốc cực mạnh do quản lý kém của chính phủ, kể cả lơ-là không chú ý bệnh này có thể đề kháng nên không có biện pháp đối phó với đề kháng thuốc.

Một bài báo khác ngày 01.11.08 trên tờ Pretoria News ở Nam Phi cũng cảnh báo XDR-TB có thể là nguy cơ cho sức khỏe quần chúng trầm trọng hơn cả nhiễm HIV/AIDS. Họ bảo cơ quan y tế nhà nước chưa làm đủ để chống bệnh. Tháng 11/07, bộ y tế Nam Phi xác nhận 481 ca XDR-TB và 216 người trong số này đã qua đời.

Điều trị lao kháng nhiều thuốc

1/ Những điều nên tránh:
-      ngưng thuốc lâu dài không điều trị có thể làm vi trùng lao đề kháng thuốc
-      tránh thuốc bệnh nhân đã dùng trước đây và không có kết quả
-      tránh thuốc gây độc hại cho bệnh nhân
-      tránh thuốc gây tương tác không cần thiết

2/ Nên chọn những thuốc nào tối ưu để chửa lao kháng nhiều thuốc?
Chọn thuốc tùy theo độ nhạy với kháng sinh trên kháng sinh đồ, chế độ thuốc điều trị trước đây, tình trạng sức khỏe bệnh nhân và những thuốc bệnh nhân đang dùng. Nên dùng những thuốc tuyến đầu còn nhạy cảm, 1 kháng sinh nhóm fluoroquinolone, 1 aminoglycosid và những thuốc uống thích hợp ở tuyến 2.

Trong thực hành, nên bắt đầu điều trị với 4-6 món thuốc chưa dùng trước đây. Thuốc tiêm sẽ ngưng sau 1 số tháng nếu thích hợp và những thuốc khó dung nạp sẽ bị loại dần, nhưng bệnh nhân phải hoàn tất điều trị với ít nhất 3 món thuốc đã chứng minh nhạy cảm trên kháng sinh đồ.

Tất cả thuốc nên uống 1 lần trong ngày để tránh đề kháng. Những thuốc như cycloserine, ethionamide,PAS với số lượng lớn bệnh nhân khó uống nỗi 1 lần, mới phải chia làm 2 hay 3 lần trong ngày.

Bệnh nhân lao kháng nhiều thuốc nên đưa vào bệnh viện để tránh lây lan và trong giai đoạn đầu , điều trị trong bệnh viện và uống thuốc trước mặt điều dưỡng tốt hơn là để bệnh nhân tự uống thuốc ở nhà.

Những thuốc đặc biệt:

FLUOROQUINOLONE:
Nhóm này có thể gây ra bệnh khớp (arthropathy) không nên dùng cho trẻ em quá nhỏ không than phiền đau ở khớp được như chưa ngồi dậy được, chưa bò được. Người lớn phải theo dõi xem họ có phát sinh bệnh đau khớp không.

Có lẽ nên dùng những fluoroquinolone tác dụng ở phổi như levofloxacin và gatifloxacin. Liều khởi đầu cho levofloxacin là 500 mg mỗi ngày, nếu dung nạp tốt, có thể tăng lên 750 mg mỗi ngày. nếu bệnh nhân nặng trên 45 Kg phải cố thử dùng liều 750 mg mỗi ngày.

Fluoroquinolone không nên dùng quá gần những thuốc chứa kim loại hóa trị 2 hay 3 như nhôm, Mg, kẽm thí dụ thuốc kháng acid.

AMINOGLYCOSID
Việt-nam thường tiêm bắp thay vì truyền tĩnh mạch, và thuốc này có thể dùng 2 hay 3 lần mỗi tuần và dùng cùng liều như khi tiêm ngày 1 lần. Chú ý đến tuổi tác, chức năng thận và đôi khi mức thuốc trong máu. Phải điều trị ít nhất 6 tháng, Bác sĩ có thể cho dùng lâu hơn nếu bệnh nặng hơn và nên dùng mức đỉnh thấp hơn để tránh độc tính.

CYCLOSERINE
Thuốc này khó tìm trên thị trường và giá đắt nên chỉ dùng trong trường hợp kháng thuốc mạnh. Thuốc có thể sinh chứng trầm cảm nên phải xem bệnh nhân có bệnh tâm thần không.Ngay tại Mỹ cũng không phải công ty xét nghiệm nào cũng nhận đo mức cycloserine trong máu, nên chúng tôi không biết Việt-nam có làm được không.

Xét nghiệm:
Vi trùng lao rất khó nuôi cấy phải chờ 3-4 tháng mới có kết quả, nên khó làm kháng sinh đồ. Tiến sĩ Lâm-Kim-Cương có bài giải thích dùng phương pháp PCR để tìm bệnh và tìm vi trùng đề kháng.

TDM (Therapeutic Drug Monitoring) là phương pháp đo mức thuốc trong máu để biết thuốc có hấp thụ đến mức điều trị không, và tránh liều quá cao có thể gây độc tính ở hệ thần kinh trung ương và tránh bị động kinh.

Cần thử mức cycloserine trong máu nếu muốn tăng liều. Với aminoglycosid, nên thử máu 2 tuần sau khi điều trị.

Phòng bệnh khi tiếp xúc với bệnh nhân kháng lao nhiều thuốc

Bác sĩ Nguyễn-Ý-Đức đã viết một bài đầy đủ về giáo dục bệnh nhân và phòng bệnh.

Chúng tôi chỉ xin nhấn mạnh đôi điều:

-      nên trang bị cho tất cả nhân viên bệnh viện lao khẩu trang đặc biệt cho bệnh lao khi làm việc trong phòng bệnh nhân
-      nên cho bệnh nhân nhiễm lao kháng nhiều thuốc mang khẩu trang để giảm thiểu truyền bệnh cho người khác.
-      nên yêu cầu thân nhân mang khẩu trang khi vào thăm bệnh nhân và giới hạn số giờ thăm viếng, tuyệt đối cấm thân nhân ở lại trong phòng bệnh nhân.
-      nên khám những người thường tiếp xúc với bệnh nhân hay ở cùng phòng bệnh nhân trước khi nhập viện, để xem có nhiễm lao không, và điều trị nếu cần.

Tài liệu tham khảo:
5/ Natural Medicines Comprehensive database của Pharmacist’s letter

(1) Tên La-tinh của Milk Thisle có thể là Sylibum marianum hay Carduus Marainum.Công dụng của cây này làm hoạt gan, nhuận mật, và làm tăng hoạt động của nội tiết tố nữ estrogen.